Thuyết minh về Chiếc nón lá Việt Nam( 39 mẫu ) | L2r.vn

Contents

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam hay nhất  1

Nón lá là hình ảnh bình dị, thân quen gắn liền với tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa đến nay, nhắc đến Việt Nam du khách nước ngoài vẫn thường trầm trồ khen ngơị hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt. Nón lá đã đi vào ca dao, dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của Việt Nam.

Bạn có còn nhớ trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm, chiếc nón lá hiện lên rất tự nhiên, gần gũi:

Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên

Như vậy mới thấy được rằng nón là là biểu tượng cho sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt từ ngàn đời nay.

Chiếc nón lá ra đời từ rất lâu, khoảng 2500-3000 năm TCN. Lịch sử hình thành và lưu giữ cho đến ngày nay đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm này. Chiếc nón lá hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của người dân việt, đặc biệt là người phụ nữ; hiện diện trong những lời kể của bà, của mẹ và hiện diện trong các cuộc thi gìn giữ nét đẹp văn hóa.

Nhắc đến nón lá thì chắc chắn mọi người sẽ nghĩ đến ngay đến Huế, mảnh đất nên thơ, trữ tình có tà áo dài và nụ cười duyên của cô gái Huế. Huế cũng được biết là nơi sản xuất nón lá với nhiều thương hiệu nổi tiếng. Những làng nghề làm nón lá ở Huế đã thu hút không ít khách du lịch ghé thăm và chọn sản phẩm này làm quà.

Để làm được chiếc nón lá đẹp thì người làm cần phải tinh tế, tỉ mỉ từ khâu lựa chọn nguyên liệu, cách phơi lá, cách khâu từng đường kim mũi chỉ. Người ta vẫn bảo làm ra một chiếc nón lá cần cả một tấm lòng là vì vậy.

Nón lá có thể được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá lại mang đến sự khác nhau cho sản phẩm. Thường thì những sản phẩm nón làm từ lá dừa có nguồn gốc từ Nam Bộ, vì đây là nơi trồng dừa nhiều. Tuy nhiên làm từ lá dừa sẽ không đẹp và tinh tế như lá cọ. Lá cọ có độ mềm mại, chắc chắn hơn. Khi lựa chọn lá cũng phải chọn những chiếc lá có màu xanh, bóng bẩy, có nổi gân để tạo nên điểm nhấn cho sản phẩm. Quá trình phơi cho lá mềm để dễ làm cũng cần từ 2-4 tiếng, lá vừa mềm vừa phẳng.

Khâu làm vành nón là khâu vô cùng quan trọng để tạo khung chắc chắn cho sản phẩm. Người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm và dẻo dai. Khi chuốt tre thì cần phải chuốt tỉ mỉ để đến khi nào có thể uốn cong mà không sợ gãy. Sau đó người dùng sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn.

Khi đã tạo khung và chuẩn bị lá xong đến giai đoạn chằm nón. Đây là giai đoạn giữ cho khung và lá bám chặt vào nhau. Thường thì người làm sẽ chằm bằng sợi nilong mỏng nhưng có độ dai, màu trắng trong suốt.

Lúc chiếc nón đã được khâu xong thì người dùng bắt đầu quết dầu làm bóng và phơi khô để dầu bám chặt vào nón, tạo độ bền khi đi nắng mưa.

Đi dọc miền đất nước, không nơi nào chúng ta thấy sự hiện diện của chiếc nón lá. Nó là người bạn của những người phụ nữ khi trời nắng hoặc trời mưa. Không chỉ có công dụng che nắng, che mưa mà nón lá còn xuất hiện trong các tiết mục nghệ thuật, đi đến các nước bạn trên thế giới. Nét đẹp văn hóa của nón lá chính là nét đẹp cần được bảo tồn và gìn giữ. Nhắc đến nón lá, chắc chắn chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tà áo dài Việt Nam, bởi rằng đây là hai thứ luôn đi liền với nhau, tạo nên nét đặc trung riêng của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời nay.

Để giữ chiếc nón lá bền với thời gian thì người dùng cần phải khéo léo, bôi dầu thường xuyên để tránh làm hỏng hóc, sờn nón.

Chiếc nón lá Việt Nam là sản phẩm của người Việt, làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ, và khẳng định sự tồn tại lâu đời của sản phẩm này.

Thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam lớp 8 hay nhất   2

Chiếc nón lá Việt Nam là một hình ảnh khá đời thường và gần gũi với mỗi chúng ta. Nó gắn bó với chúng ta từ tấm bé đến khi trưởng thành. Đó là chiếc nón của mẹ quạt mát cho con, là chiếc nón của những bạn gái học chung trường hay chiếc nón lá của những buổi làm đồng vất vã… Chiếc nón lá không chỉ để che nắng che mưa mà còn điểm thêm nét duyên dáng cho hình ảnh của người phụ nữa Việt Nam ta.

Chiếc nón lá được làm từ những nguyên liệu đơn giản như lá cọ, tre làm khung, móc và chỉ tơ. Trông đơn giản nhưng để làm nên một chiếc nó lá đẹp là cả sự tỉ mỉ và kì công của những người thợ giỏi. Bởi nó có hình chóp đều và xòe tròn mở rộng ra phía dưới. Để làm được một chiếc nó đẹp, tròn đều như vậy trước hết là công việc vót tre. Tiếp sau đó, những vành tre được uốn cong cẩn thận làm vành nón. Đây là bộ khung vững chắc và nhẹ nhàng cho chiếc nón lá của chúng ta.

Một bộ phận vô cùng quan trọng là lớp lá cọ. Phải chọn những lá cọ non tươi rồi phơi cho thật trắng. Ở giữa hai lớp lá cọ là lớp mo nang được lấy từ mo nứa, mo tre phơi khô để làm cho chiếc nón nhẹ hơn. Sau khi làm nón xong, ta có thể hơ trên hơi lửa để tránh mốc và làm lá cọ trắng hơn. Một bộ phận không thể thiếu của chiếc nón lá chính là quai nón. Quai nón có thể làm bằng chất liệu vải lụa, vải the hay nhiều loại vải khác. Để tăng vẻ đẹp của chiếc nón lá, người ta có thể quét một lớp dầu thông bóng lên trên hoặc trang trí với nhiều hoa văn rất đẹp mắt.

Có thể nói nghề làm nón lá là sự đúc kết tinh hoa dân tộc của ông cha ta qua bao thế hệ nay. Nhìn chiếc nón lá Việt Nam khá đơn giản nhưng để làm nên được nó là cả tâm huyết của những người thợ. Một chiếc nó lá được làm ra phải đảm bảo tính chống nước khi trời mưa và tính chống nắng trong những ngày nắng chói chang. Ở Việt nam có nhiều làng nghề làm nón nổi tiếng như: nón bài thơ ở Huế nhẹ nhàng, thanh mãnh; nón làng Chuông (Hà Tây cũ) bền đẹp nổi tiếng; nón Nam Định, Quảng Bình…

Chiếc nón lá vừa là một vật dụng vừa là một người bạn thân thiết của chúng ta. Nón dùng để che nắng cho những buổi làm đồng. Nón che ta khỏi ướt dưới những cơn mưa rào bất chợt. Không chỉ vậy, nón còn là một món quà kỉ niệm, một món quà lưu niệm quý giá. Chiếc nón lá Việt Nam xuất hiện rất nhiều trong các cuộc thi mang tầm thế giới như một biểu tượng đẹp của đất nước Việt Nam. Và chiếc nón lá một hình ảnh gắn liền với người phụ nữ Việt Nam đẹp dịu dàng, thướt tha mỗi khi sánh bước đi trong tà áo dài truyền thống.

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, có rất nhiều loại nón mới lạ và đẹp mắt. Tuy nhiên, chiếc nón lá vẫn khẳng định vị trí của mình. Đi ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam, chúng ta đều dễ dàng bắt gặp hình ảnh chiếc nón lá vô cùng dễ thương. Nón lá là tuổi thơ, là kỉ niệm là những hoài niệm đẹp. Nó gắn liền với những ngày nhọc nhằn, khó khăn của cha mẹ. Để rồi hôm nay, nó được tỏa sáng và vinh danh trước bạn bè thế giới. Hãy trân trọng chiếc nón lá như trân trọng chính những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam cực hay  3

Một hình ảnh đẹp về con người Việt Nam đó là phong tục, là ẩm thực, là lý tưởng hòa bình. Không ai có thể quên được chiếc bánh chưng xanh, cánh đồng lúa chín, tà áo dài Việt và cả chiếc nón lá.

Nón lá từ lâu đã trở thành nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Chắc hẳn ai đó vẫn còn nhớ, hình ảnh người con gái Việt mặc áo dài, tay cầm nón lá đã trở thành biểu tượng du lịch. Quả thực hình ảnh ấy có sức gợi cảm rất tốt. Đó là điểm ấn tượng của chúng ta đối với du khách và bạn bè quốc tế. Tại sao lại như vây? Tà áo dài là trang phục truyền thống của chúng ta, vậy còn nón lá thì sao? Nón lá là vật dụng không thể thiếu của người Việt. Bởi lẽ, chúng ta là một nước nông nghiệp, việc làm ngoài trời rất nhiều lại cộng thêm thời tiết nhiệt đới nắng nóng nên cần có một vật dụng tiện lợi để che nắng khi làm việc và nón lá ra đời. Hình ảnh những chiếc nón trắng mấp mô giữa đồng luôn là hình tượng khó có thể phai nhòa. Không chỉ thế, nón lá còn ra đời ở Huế – địa điểm hội tụ những tinh hoa văn hóa của người Việt, từ lịch sử, cho đến ẩm thực, các loại hình nghệ thuật giải trí. Do đó, chiếc nón lá ngày càng trở nên quen thuộc với khách thập phương.

Nón lá cũng giống như các loại mũ khác có công dụng che nắng, che mưa. Nón lá có dạng hình chóp (hình nón). Đáy nón lá tròn trịa thường có đường kính khoảng 60 cm. Tuy nhiên ngày nay, nón lá không chỉ được sản xuất để đội đầu mà còn dùng làm vật trang trí nên đường kính có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn rất đa dạng. Nón lá thường được làm bằng lá cọ hoặc lá dừa. Bởi tính chất dai, không thấm nước và héo lụi khi gặp nắng của hai loại lá này nên người ta chọn để làm nón. Cái tên nón lá cũng xuất phát từ hình dáng cũng như nguyên liệu chính để làm nón. Ngoài ra, nguyên liệu làm nón còn có nan tre, kim chỉ, hình ảnh trang trí. Trước tiên là về lá làm nón. Lá dừa hoặc lá cọ sẽ được chọn lựa kĩ càng. Thường nón sẽ được làm bằng lá cọ nhiều hơn. Vì lá cọ mềm mại và dai hơn lá dừa. Lá làm nón phải đủ tiêu chuẩn xanh, nổi gân, bóng bẩy. Lá được chọn sẽ man về đem phơi héo từ 2 đến 4 tiếng để lá mềm hơn. Khi lá mềm, lá sẽ phẳng sẵn sàng để làm thành nón. Nguyên liệu tiếp theo là nan tre. Nan tre được chế biến từ thân cây tre, có độ mềm dẻo dễ uốn nắn. Nan tre thường được vót tròn đường kính khoảng 1 đến 2 cm. Nan tre là vật dụng dễ kiếm ở Việt Nam. Bởi nó được là từ cây tre, một loài cây mọc thành bụi, có tốc độ tăng trưởng và phát triển rất nhanh. Nguyên liệu cuối cùng là kim chỉ màu và hình ảnh trang trí, sơn dầu.

Sau khi đã chuẩn bị được đầy đủ các loại nguyên liệu, người làm nón sẽ bắt đầu vào các giai đoạn các bước làm thành sản phẩm – nón lá. Trước tiên là khâu làm vành nón. Đây là khâu vô cùng quan trọng để tạo ra sự chắc chắn cũng như bền đẹp của chiếc nón. Vành nón được làm bằng nan tre, người làm nón sẽ dùng sự khéo léo của mình để uốn nan tre đó thành những vòng tròn có đường kính từ nhỏ đến lớn sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn. Khung nón đã xong. Tiếp theo là giai đoạn chằm nón. Giai đoạn này, người làm nón sẽ dùng một loại dây có chất liệu đặc biệt, có độ dai và màu trong suốt được làm từ nilon hoặc polieste. Nhờ loại dây chỉ đặc biệt này mà khung nón và lá nón được gắn kết với nhau. Người làm nón sẽ lấy từng lớp lá từng lớp để khâu tỉ mỉ chúng chắc chắn vào khung nón. Làm xong giai đoạn chằm nón này có thể được coi như đã thành sản phẩm hoàn chỉnh. Bước cuối cùng là trang trí và hoàn tất sản phẩm. Trang trí nón lá có rất nhiều cách. Thường họ sẽ thiếu hình ảnh hoặc chữ nên trên bề mặt nón hoặc bên trong nón có khâu kèm các hình ảnh thần tượng hoặc diễn viên. Ngày nay, trang trí nón rất đa dạng và không giới hạn, đảm bảo yêu cầu thẩm mĩ của người tiêu dùng. Cuối cùng sau khi trang trí xong, họ sẽ phết một lớp sơn dầu để tạo độ bóng cho bề mặt ngoài nón và để bảo quản độ bền màu cũng như độ mềm của lá nón khi sử dụng. Bây giờ, người dùng chỉ cần chọn quai nón theo sở thích là có thể dùng được. Dây quai nón thường là một dải lụa hoặc vải tổng hợp, chiều dài từ 70 đến 80 cm. Dây quai nón có tác dụng giữ chắc nón trên đầu khi sử dụng hoặc để treo nón lên cao khi không sử dụng đến. Giúp việc sử dụng và bảo quản nón dễ dàng hơn.

Ngày nay, nón lá được biết đến không chỉ là vật dụng không thể thiếu của các chị em, các bà các mẹ mà còn trở thành món quà lưu niệm của du khách, một đạo cụ trên sân khấu nghệ thuật. Nón lá đã trở thành một điểm đẹp nền văn hóa của nước ta. Là người Việt, không ai là không biết đến hình ảnh nón Huế nghiêng nghiêng của người con gái. Một biểu tượng dịu dàng, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam – nón lá.

Thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam ngắn gọn   4

Nhắc đến người con gái Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay tới hình ảnh người con gái với áo dài và nón lá. Chiếc nón lá vừa là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với người phụ nữ vừa là một biểu tượng văn hóa của một nét đẹp nghìn năm văn hiến.

Thật vậy, ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam chúng ta đều rất dễ bắt gặp hình ảnh những chiếc nón lá mộc mạc, đơn sơ nhưng nó lại ẩn chứa một vẻ đẹp thuần hậu. Không chỉ đơn thuần là vật dụng che mưa che nắng của người phụ nữ chân quê, mà nó còn là món quà tinh thần ý nghĩa của Việt Nam. Bạn bè quốc tế đến thăm hay khách du lịch đến Việt Nam thì đều được tặng những chiếc nón lá như là một kỉ niệm đẹp và để tỏ lòng mến khách của người Việt.

Nón lá xuất hiện từ khoảng 2500-3000 TCN và được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Đối với người phụ nữ Việt thì nón lá là một vật dụng quan trọng trong cuộc sống của họ. Trước hết, nón là dùng để che mưa che nắng. Các bà, các mẹ, các chị từ xa xưa đã đội nón lá đi làm đồng, đi chợ và cả đi chơi hội nữa. Ngày tiễn con gái về nhà chồng, bà mẹ cũng thường trao cho con chiếc nón lá với bao lời nhắn gửi yêu thương.

Không chỉ có tính sử dụng trong thực tế, chiếc nón lá còn hướng tới mục đích làm đẹp, làm duyên cho người phụ nữ Việt. Dưới vành nón lá trắng phau, đôi mắt đen láy, nụ cười chúm chím, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai hay cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, e thẹn, vừa kín đáo lại vừa quyến rũ, mê đắm.

Từ trong đời sống thường ngày, chiếc nón lá còn đi vào thơ ca, nhạc họa, gợi nguồn cảm hứng cho nhạc, cho thơ. Đã có không ít những bài hát về chiếc nón lá: “Một chiều làng quê trên đường đê lối nhỏ đi về, nụ cười đưa duyên em thẹn thùng trong nón lá che nghiêng” hay “Một người con gái, đứng nghiêng nghiêng vành nón lá. Đường chiều bờ đê, lối xưa kỉ niệm thiết tha”…. Chiếc nón lá còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần trong thơ: “Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng che”. Thế rồi, trong những năm tháng chiến tranh loạn lạc, lúc tiễn người yêu ra chiến trường, cô gái thường đội nón lá với quai tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi cũng đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển. Chỉ như vậy thôi cũng đã đủ làm yên lòng người ra trận.

Có thể thấy rằng, xuyên suốt từ bao đời nay, từ trong thực tế cho đến những làn điệu dân ca, những lời thơ, câu văn đều có bóng dáng hình ảnh chiếc nón lá gắn liền với người con gái Việt Nam dịu dàng, duyên dáng. Ngày nay, để tạo ra chiếc nón lá thì người thợ làm nón cần phải có đôi tay khéo léo, có cả tâm tình mới có thể tạo nên được những chiếc nón xinh xắn và thiết kế tỉ mỉ đến như vậy. Nón lá thường được đan bằng các loại lá cây khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá dừa, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón v.v. Mỗi một chiếc nón thường sẽ có quai đeo làm bằng vải mềm hoặc lụa. Những người thổi được hồn vào những chiếc nón, làm nên những chiếc nón đẹp tinh tế là những người thực sự có đôi bàn tay khéo léo và có tâm tình chan chứa.

Là một biểu tượng của người phụ nữ Việt, chiếc nón lá gắn liền với cả đời sống vật chất và tinh thần của chúng ta. Đi khắp miền đất nước, hình ảnh chiếc nón lá vẫn luôn là hình ảnh chúng ta dễ bắt gặp hơn cả. Đó vừa là nét đẹp bình dị, mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ Việt, vừa là một biểu tượng văn hóa của một đất nước trọng tình trọng nghĩa của nước Nam ta. Biểu tượng ấy đã góp phần làm nên một vẻ đẹp rất Việt Nam.

Giới thiệu một sản phẩm Việt Nam: chiếc nón lá  5

Chiếc nón có từ bao giờ? Mỗi lần thấy bà, thấy mẹ đội nón, tôi cứ bâng khuâng về câu hỏi ấy.

Cái nón quê kiểng bình dị thật ưa nhìn. Xương nón làm bằng tre, nứa, được vót tròn óng chuốt, được kết thành những vòng tòn có đường kính khác nhau theo khuôn nón. Cái chóp nón lúc nào cũng hướng về trời cao. Lá lợp nón là sản phẩm của núi rừng. Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên, u Minh… là nguồn vô tận về lá nón. Lá cọ, lá kè cũng để làm nón. Chiếc nón mới làm ra lại được quết một lớp mỏng dầu rái (thảo mộc), óng ánh, vừa bền vừa đẹp.

Dáng hình chiếc nón cũng nhiều vẻ. Nó ba tầm quai thao của các cô gái Kinh Bắc trong lễ hội mùa xuân: hội Lim, hội chùa Dâu, hát Quan Họ. Lại có chiếc nón của các bà, các cô đội lúc làm đồng, vừa chắc bền, vừa tiện lợi. Che nắng mưa, làm quạt,… Các cô thôn nữ làm duyên sau vành nón ấy. Chiếc nón thanh nhẹ còn che chở cho đôi má hồng, má lúm đồng tiền thêm xinh thêm dòn.

Ai đã sáng tạo ra chiếc nón bài thơ xứ Huế? Lá nón trắng nõn nà; bài thơ mờ tỏ ẩn hiện. Chiếc quai nón bằng lụa thanh tao. Vành nón nghiêng nghiêng, dịu dàng, e lệ, thầm kín của cô gái miền núi Ngự sông Hương. Chả thế mà du khách, các cậu khóa ngẩn ngơ:

“Học trò xứ Quảng ra thi,

Gặp cô gái Huế bước đi không dành”.

Còn có chiếc nón dấu anh lính thú đời xưa, mà khi xem phi ta mới biết:

“Ngang lưng thì thắt bao vàng,

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài”…

Mẹ em bảo nước ta nắng lắm mưa nhiều. Chiếc nón là vật dụng thân thiết của mọi người, nhất là nhà nông. Vừa rẻ, vừa tiện lợi. Nhẹ nhàng dễ mang theo. Có nhiều làng nghề thủ công làm nón nổi tiếng xưa nay từng được truyền tụng qua ca dao, dân ca:

“Muốn ăn cơm trắng, cá mè,

Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông”

hay:

“Hỡi cô đội nón ba tầm,

Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang.

Phiên rằm chợ chính Yên Quang,

Yên Hoa anh đợi hoa nàng mới mua”.

Chiếc nón làng Găng, chiếc nón bài thơ xứ Huế đã trở thành món quà lưu niệm của khách phương xa. Nghe nói trong phòng khách của nhà thơ Xi-mô-lốp (Nga) có chiếc điếu cày và chiếc nón bài thơ mà ông đã mang từ Việt Nam về. Và trong chúng ta, ai đã từng được xem điệu múa nón, hẳn đều tưởng như đàn bướm sặc sỡ đang rập rờn bay trong ngàn hoa. Hình ảnh cô nữ sinh Huế ngày xưa tưởng như gặp trong mộng:

“Những nàng thiếu nữ sông Hương,

Dạ thơm là phấn, má hường là son.

Tựu trường chân sút thon thon,

Lao xao nón mới màu sơn sáng ngời”.

(Tựu trường – Nguyễn Bính)

Ngày nay, ở các đô thị, hầu như không thấy học sinh đội nón đến trường. Mà chỉ thấy những chiếc mũ vải đủ màu sắc xinh xinh. Nhưng trên đường làng, giữa các phiên chợ miền quê, chiếc nón lá màu trắng xinh xinh thanh nhẹ vẫn thấy nhiều và ưa nhìn, dễ mến. Các bà, các mẹ, các cô thôn nữ… làm sao rời được chiếc nón quê hương?

Trên con đường phát triển, công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta ngày một phong phú hơn, sang trọng hơn. Những giậu cúc tần, luỹ tre xanh, đồng lúa chín, con trâu hiền lành, tiếng sáo diều,… và chiếc nón ba tầm, chiếc nón bài thơ sẽ còn mãi trong tâm hồn nhân dân ta. Những câu hát bài ca về chiếc nón bình dị, quê kiểng ấy vẫn là sợi nhớ sợi thương giăng mắc trong hồn người, man mác và bâng khuâng có bao giờ vơi…

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  6

Chiếc nón lá Việt Nam là một công cụ che nắng, che mưa, làm quạt, khi còn để che giấu gương mặt, nụ cười hay tạo thêm nét duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam.

Vật liệu để làm nên cái nón là lá cọ, chỉ tơ, móc, tre làm khung. Nón lá có cấu tạo đơn giản nhưng cũng đòi hỏi một sự khéo léo của người thợ. Nón có hình chóp đều, thành được bao bọc bởi những chiếc vành uốn quanh thành nhiều lớp. Vành nón làm bằng tre, vót tròn như bộ khung nâng đỡ cái hình hài duyên dáng của nón. Ở phần đáy nón có một chiếc vành uốn quanh, cứng cáp hơn những chiếc vanh nón ở trên. Vanh nón, vành nón cứng hay giòn sẽ quyết định đến độ cứng cáp, bền lâu của chiếc nón.

Nhưng bộ phận quan trọng nhất của chiếc nón lại là hai lớp lá cọ – vật liệu chính để hình thành nên một chiếc nón. Lá cọ phải là lá non, phơi thật trắng. Lót giữa hai lớp lá cọ là lớp mo nang làm cốt, được phơi khô, lấy từ mo tre, mo nứa. Tất cả các vật liệu làm nên nón đều phải không thấm nước, dễ róc nước để chống chịu với những cơn mưa vùi dập, những ngày nắng oi ả thất thường.

Để tăng thêm nét duyên dáng, đồng thời giữ chặt nón vào đầu người đeo, người ta làm ra chiếc quai bằng lụa mềm gắn cùng hai chiếc nhôi đính vào mặt trong của chiếc nón. Nhôi nón được đan bằng những sợi chỉ tơ bền, đẹp. Người ta cũng có thể trang trí những hoa văn đậm nét dân tộc vào bên trong chiếc nón hoặc quét một lớp quang dầu thông bóng bẩy lên mặt ngoài chiếc nón.

Quy trình làm nón không khó lắm: trước hết, phơi lá nón (lá cọ non) ra trời nắng cho thật trắng, để rải trên nền đất cho mềm, rồi rẽ cho lá rộng bản. Sau đó, là lá trên một vật nung nóng cho phẳng. Vanh nón được vuốt tròn đều đặn. Việc cuối cùng là thắt và khâu khi lá đã đặt lên lớp vành khuôn. Sợi móc len theo mũi kim qua 16 lớp vòng bằng cột tre để hoàn chỉnh sản phẩm. Nón khâu xong có thể hơ trên hơi lửa cho thêm trắng và tránh bị mốc. Quy trình làm nón là vậy. Nói là: không khó lắm, nhưng thực ra đó là những tinh hoa, những đúc kết bao đời nay của nghệ thuật làm nón.

Ở Việt Nam, có nhiều vùng nổi tiếng về nghề làm nón: nón làng Chuông (Hà Tây cũ) vừa bền vừa đẹp; ở Huế có nón bài thơ thanh mảnh nhẹ nhàng; nón Quảng Bình, Nam Định cũng có những nét đẹp riêng.

Chiếc nón lá rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Nó che mưa, che nắng, là một món quà kỷ niệm đầy ý vị độc đáo, sâu sắc. Nó làm thêm phần duyên dáng cho các thiếu nữ Việt Nam trong các dịp hội hè. Còn gì đẹp hơn một người thiếu nữ mặc chiếc áo dài thướt tha, đội chiếc nón lá, bước đi uyển chuyển trong bài múa nón.

Chiếc nón đã thực sự trở thành một biểu tượng sinh động của người phụ nữ Việt dịu dàng, nết na, duyên dáng: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, chiếc nón đã không còn vị trí, vai trò như trước. Những chiếc mũ xinh xinh, những bộ quần áo mưa sang trọng đã thay dần chiếc nón bình dị xưa. Nhưng trong ý thức mỗi người dân Việt, hình ảnh chiếc nón cùng những nỗi nhọc nhằn, những mũi chỉ khâu tinh tế sẽ mãi mãi trường tồn vĩnh cửu. Nó mãi mãi là một nét đẹp trong nền văn hoá độc đáo của đất nước Việt Nam tươi đẹp.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam lớp 8 hay  nhất  7

Chiếc nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỉ thứ 13, tức là vào đời nhà Trần. Từ đó đến nay, nón luôn gắn bó với người dân Việt Nam như là hình với bóng. Không phải là đồ vật phân biệt giới tính, tuổi tác và địa vị… nón luôn đi theo như người bạn đường che nắng che mưa cho mọi hành trình. Phải chăng như vậy mà nón đã từ lâu trở thành biểu tượng cho đất nước con người Việt Nam?

Trước hết, nón là một đồ dùng rất “thực dụng”. Nó dùng để che mưa nắng. Nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn… tất cả đều để che chắn che mưa. Dù nón có nhiều loại, song nét đặc thù chung của nó là rộng vành (để chống nóng) và có mái dốc (để thoát nước nhanh, che mưa). Ngoài chức năng ứng phó với môi trường tự nhiên, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp, làm duyên cho người phụ nữ và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo. Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ…

Người ta đội nón lá làm đồng, đi chợ, chơi hội. Tiễn cô gái về nhà chồng, bà mẹ đặt vào tay con chiếc nón thay cho bao nhiêu lời nhắn gửi yêu thương… Chiếc nón gợi nguồn cảm hứng cho thơ, cho nhạc. Đã có hẳn một bài về hát về nón: “Nón bài thơ, em đội nón bài thơ, đi đón ngày hội mở”… Giữa những kênh rạch, sông nước chằng chịt ở miệt vườn Nam Bộ, ai đó đã phải ngẩn ngơ vì: “Nón lá đội nghiêng tóc dài em gái xõa”. Chiếc nón còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần: “Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng che…”. Trong những năm chiến tranh, tiễn người yêu ra chiến trường, các cô gái thường đội nón với cái quai mầu tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển, làm yên lòng người ra trận…

Nón lá thường được đan bằng các loại lá, cây khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá cối, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón v.v. Có hoặc không có dây đeo làm bằng vải mềm hoặc lụa để giữ trên cổ.

Nón lá thường có hình chóp nhọn hay hơi tù, tuy vẫn có một số loại nón rộng bản và làm phẳng đỉnh. Nón lá có nhiều loại như nón ngựa hay nón Gò Găng (sản xuất ở Bình Định, làm bằng lá dứa, thường dùng khi đội đầu cưỡi ngựa), nón quai thao (người miền Bắc Việt Nam thường dùng khi lễ hội), nón bài thơ (ở Huế, là thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hoặc một vài câu thơ), nón dấu (nón có chóp nhọn của lính thú thời phong kiến); nón rơm (nón làm bằng cọng rơm ép cứng); nón cời (loại nón xé te tua ở viền); nón gõ (nón làm bằng tre, ghép cho lính thời phong kiến); nón lá sen (còn gọi là nón liên diệp); nón thúng (nón là tròn bầu giống cái thúng, thành ngữ “nón thúng quai thao”); nón khua (nón của người hầu các quan lại thời phong kiến); nón chảo (nón mo tròn trên đầu như cái chảo úp, nay ở Thái Lan còn dùng).v.v.

Đối với người phụ nữ Huế chiếc nón bài thơ luôn là một người bạn đồng hành. Trong cuộc sống thường nhật, chiếc nón đối với người phụ nữ Huế rất thân thiết. Chiếc nón không chỉ có chức năng che mưa che nắng, mà người phụ nữ Huế còn dùng nó để làm đồ đựng, phương tiện quạt mát và cao hơn hết là chức năng làm đẹp, góp phần làm tăng thêm nét duyên dáng phụ nữ Huế.

Giờ đây chiếc nón lá được phổ biến khắp đất Việt Nam là nét đặc trưng văn hóa riêng của đất nước. Khi người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng muốn có trong hành lí của mình vài chiếc nón làm quà khi về nước.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam cực hay 8

Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chăm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên

Cứ mỗi lần nghe ai nhắc đến nón lá là tôi lại nhớ đến “Bài thơ đan nón” của Nguyễn Khoa Điềm. Trong bài thơ chứa đựng sự dịu dàng, bình dị, thân thiện của người phụ nữ Việt.

Chiếc nón lá ra đời từ 2500 – 3000 năm trước công nguyên. Mỗi chiếc nón lá là biểu tượng lịch sử hình thành và lưu giữ cho đến ngày nay, đã chứng tỏ được sự bền vững của sản phẩm này. Chiếc nón lá hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Việt, đặc biệt là người phụ nữ, hiện diện trong các cuộc thi gìn giữ nét đẹp văn hóa.

Nhắc đến nón lá thì chắc chắn mọi người sẽ nghĩ ngay đến Huế- mảnh đất nên thơ, trữ tình có tà áo dài và nụ cười duyên của cô gái Huế. Huế cũng được biết đến là nơi sản xuất nón lá với nhiều thương hiệu nổi tiếng. Những làng nghề làm nón lá ở Huế đã thu hút không ít khách du lịch ghé thăm và chọn sản phẩm này làm quà. Để làm được chiếc nón lá đẹp thì người làm cần phải tinh tế, tỉ mỉ khâu lựa chọn nguyên liệu, cách phơi lá, cách khâu từng đường kim mũi chỉ. Người ta vẫn bảo làm ra một chiếc nón lá cần cả một tấm lòng là vì vậy. Nón lá có thể được làm bằng lá dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá mang đến sự khác nhau cho sản phẩm. Thường thì những sản phẩm nón lá làm từ dừa có nguồn gốc từ Nam Bộ vì đây là nơi trồng nhiều dừa. Tuy nhiên, làm từ lá dừa sẽ không đẹp, tinh tế như lá cọ, lá cọ có độ mềm mại, chắc chắn hơn. Khi lựa chọn lá cũng phải chọn những chiếc lá có màu xanh, bóng bẩy, có nổi gân để tạo điểm nhấn cho sản phẩm. Quá trình phơi cho lá dễ làm cũng cần từ 2-4 tiếng, lá vừa mềm, vừa thẳng. Khâu làm vành nón là khâu vô cùng quan trọng để tạo khung chắc chắn cho sản phẩm. Người dùng cần phải lựa chọn nan tre có độ mềm và dẻo dai, khi chuốt tre thì cần phải chuốt tỉ mỉ để đến khi nào công đoạn uốn công thì không sợ bị gãy. Sau đó, người dùng sẽ uốn theo những đường kính từ nhỏ đến lớn tạo thành khung cho nón lá sao cho tạo thành một hình chóp vừa vặn. Khi đã tạo khung và chuẩn bị lá xong sẽ đến giai đoạn chằm nón. Đây là giai đoạn giữ cho khung và lá bám chặt vào nhau. Thường thì người làm sẽ chằm bằng sợi ni lon mỏng nhưng dai, có màu trắng và trong suốt. Lúc xong thì người làm sẽ quết dầu, làm bóng và phơi khô để dầu bám chặt vào nón, tạo độ bền khi đi nắng mưa.

Đi dọc mọi miền đất nước, không nơi nào không có nón lá. Không chỉ che mưa, che nắng mà nón còn xuất hiện trong các tiết mục nghệ thuật, được đến các nước bạn trên thế giới. Nét đẹp văn hóa của nón lá chính là nét đẹp cần được bảo vệ, giữ gìn. Nhắc đến nón lá chắc chắn phải nhắc đến áo dài Việt Nam, đây là hai thứ luôn đi liền với nhau, tạo nên nét đặc trưng riêng của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời.

Để giữ chiếc nón lá bền với thời gian thì người dùng phải khéo léo bôi dầu thường xuyên, tránh làm hỏng hóc, sờn nón.

Chiếc nón lá Việt Nam là sản phẩm của người Việt Nam làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ và khẳng định sự tồn tại lâu đời của sản phẩm này.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  9

Nón lá là một biểu tượng gắn liền với hình ảnh người con gái Việt Nam. Từ thời xa xưa nón lá đã là một dụng cụ vô cùng thân thiết với con người chúng ta. Hình ảnh một cô gái Việt Nam thướt tha trong chiếc áo dài truyền thống trên đầu đội chiếc nón lá màu trắng tinh khôi, đã trở thành hình ảnh vô cùng quen thuộc với các bạn bè du khách năm Châu trên toàn thế giới khi nhớ về dân tộc ta.

Trong một bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã viết về chiếc nón lá như thế này:

Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Qua những câu thơ giản dị, mộc mạc nhưng cũng vô cùng lãng mạn, trữ tình ta thấy chiếc nón lá trở thành biểu tượng thiêng liêng thể hiện sự dịu dàng, tha thướt của người cô gái Việt.

Theo như các tài liệu ghi chép lại thì nón lá của Việt Nam ra đời từ khá lâu từ khoảng 3000 năm TCN. Sự hình thành và gìn giữ chiếc nón lá từ thời đó cho đến nay thể hiện vai trò và tầm quan trọng của kỷ vật thiêng liêng này. Chiếc nón lá không chỉ xuất hiện trong cuộc sống thường nhật của người phụ nữ nước ta, mà nó còn xuất hiện trong thơ ca, trong những bức tranh, như lời ca dao của ông cha ta để lại. Nón lá như một nét văn hóa riêng biệt của dân tộc ta không giống với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Nón lá nước ta có hai loại: Một là nón 3 tầm, là loại nón hình tròn vành to, rộng thường được các liền anh, liền chị khi hát trao duyên đội trên đầu hoặc khoác ở tay, loại nón này thường được đi kèm với trang phục áo dài tứ thân, áo mớ ba mớ bảy….thể hiện sự dịu dàng, nhẹ nhàng của người phụ nữ.

Loại nón lá thứ hai là nón chóp: Loại nón giống hình tam giác có chóp nhọn ở trên rộng vành, chiếc nón này được sử dụng phổ thông hơn. Và các trang phục đi kèm với nó cũng thoải mái, phóng khoáng hơn.

Nón chóp có thể mặc với áo dài tân thời, có thể mặc áo bà ba, hay mặc áo lụa, quần xa tanh…Nón chóp giúp các cô gái che nắng che mưa, giúp các bà các mẹ bớt cảm thấy oi bức trong những ngày hè nóng nực…

Hình ảnh chiếc nón lá đã gắn liền với cuộc sống của người dân như một nét văn hóa giả dị, mộc mạc.

Để làm được một chiếc nón lá cũng rất kỳ công. Nón lá thường được làm từ lá dừa, hoặc lá cọ. Nhưng nón lá thường làm từ lá có sẽ bền đẹp hơn bởi lá cọ có độ bóng và dẻo dai hơn.

Sau khi lựa chọn những chiếc lá cọ to đẹp, xanh mướt người nghệ nhân phải phơi lá khoảng 4 tiếng đồng hồ để lá héo bớt đi rồi chọn . Khi lá mềm đi rồi người nghệ nhân bắt đầu lấy kim khâu làm vành nón, tạo khung nón. Sau đó tỉ mỉ ngồi khâu từng chiếc lá cọ vào chiếc khung đã được định hình sẵn. Khi làm khung cho nón lá người ta thường chọn những loại tre không già quá và cũng không non quá bởi tre già thường giòn dễ gãy, còn non qua thì không có độ dẻo dai. Nên loại tre có độ tuổi vừa tầm là tốt nhất. Khung của nón lá chính là những hình tròn xếp từ to nhất tới nhỏ nhất tạo ra hình chóp.

Sau khi làm khung nón, là tới giai đoạn chằm nón. Khâu này vô cùng quan trọng vì nó giúp cho khung nón và lá nón bám chặt không bị bung rời. Người làm nón thường chằm nón bằng những sợi ni lông mỏng dai, có màu trong suốt trông rất đẹp mắt.

Khi chiếc nón đã được hình thành khâu lại hoàn chỉnh thì người làm nón lá sẽ bôi một lớp dầu bám vào bề mặt ngoài của nón lá để tạo độ bóng, và để tráng gương cho chiếc nón khi đi mưa không bị nước mưa thấm qua những khe hở của lá cọ mà làm ướt tóc, ướt đầu.

Chiếc nón của nước ta là một biểu tượng đẹp gắn liền với người phụ nữ đoan trang, thùy mị. Dù qua bao nhiêu thời gian chiếc nón lá vẫn giữ nguyên giá trị của mình trong cuộc sống của con người .

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  10

Hình ảnh chiếc nón lá luôn quen thuộc, gần gũi với người phụ nữ Việt Nam từ xưa tới nay, khi nhắc tới chiếc nón lá người ta thường nhớ ngay đến những tà áo dài thướt tha, tới những lời ăn tiếng nói dịu dàng, đậm phong tục tập quán của người Việt Nam, dù đi đâu thì hình ảnh chiếc nón lá vẫn luôn đậm sâu trong trái tim mỗi người, hình ảnh mộc mạc, chân chất lại rất nhiều ý nghĩa, và chiếc nón lá còn là một trong những món quà ý nghĩa mà người dân Việt Nam dành tặng bàn bè Quốc Tế để thể hiển sự thân thiết, yêu mến.

Chiếc nón xuất hiện từ rất lâu rồi, chiếc nón lá luôn là người bạn đồng hành che mưa, che nắng, luôn ở bên những bước hành trang chúng ta đi. Để tạo ra một chiếc nón thì cần sự cầu kỳ, tỉ mỉ, kỳ công của người làm nón, muốn chiếc nón đẹp thì ngay từ khâu chọn nguyên liệu, rồi khâu từng đường kim mũi chỉ người thợ đã đặt hết tâm tình vào đó để tạo ra những chiếc nón đẹp. Ngoài việc che nắng che mưa thì chiếc nón còn là một phụ kiện làm đẹp rất tuyệt vời, trong những ngày hội dân ca, những ngày hội làng, hay ngày kết hôn của các đôi vợ chồng mẹ chồng trao nón cho con dâu, chiếc nón đều có mặt và tạo nên nét duyên dáng của phụ nữ Việt Nam, chiếc nón thay cho bao nhiêu lời nhắn gửi yêu thương, trong thơ văn chiếc nón là cảm hứng của rất nhiều nhà văn, nhà thơ…

“Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng tre”, qua hình ảnh nón lá trong câu thơ là hình ảnh người mẹ tần tảo, chịu thương chịu khó. Thời chiếc tranh các cô gái thường đội nón quai màu tím tiễn người yêu ra chiến trường thể hiện sự chung thủy, sắc son, như thay một lời hẹn ước sẽ đợi người yêu chiến thắng trở về, thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam

Các loại lá như lá cọ, lá du quy diệp, lá cối, lá rơm, lá tre, lá dứa… đều có thể làm nón được, ở mỗi vùng miền khác nhau thì kiểu dáng của chiếc nón cũng khác nhau, người miền Bắc có nón quai thao khi dự các lễ hội, ở Huế thì có nón bài thơ, ở Bình Định có nón Gò Găng, quai nón thường được làm bằng nhung, lục, hay the, với những màu sắc đẹp và tươi tắn, làm nổi bật thêm vẻ đẹp của chiếc nón, làm tăng lên độ duyên dáng của người phụ nữ khi đội nón, hình ảnh chiếc nón giống như người phụ nữ Việt Nam, không chỉ đẹp ở từng chi tiết mà còn thể hiện ở phần dáng nón, những người thợ khâu nón đã làm nên những chiếc nón đẹp, từng đường kim mũi chỉ được người thợ gửi gắm những hình ảnh mang nét đặc trưng truyền thống của dân tộc Việt Nam

Nón lá là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam, là hình ảnh bình dị thân quen với tà áo dài truyền thông của người phụ nữ Việt Nam, chiếc nón là được phổ biến trên khắp đất nước và là nét đặc trưng văn hóa riêng của đất nước Việt Nam, khi bạn bè nước ngoài đến Việt Nam đều muốn trong hành lý của mình mang về có món quà là chiếc nón lá Việt Nam, chúng ta đã quảng bá được vẻ đẹp của đất nước của con người thông qua hình ảnh những cô gái mặc áo dài thướt tha đội nón lá.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  11

“Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

Chiếc nón lá mộc mạc, giản dị, đơn sơ là một người bạn gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Việt Nam. Nón lá từ lâu đã là một nét đẹp truyền thống, trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam, đi vào nhiều bài ca dao và thơ ca, nhạc họa.

Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời, gắn với quá trình phát triển của dân tộc. Hình ảnh của nón lá đã xuất hiện trên trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịch từ khoảng 2500-3000 năm TCN. Người Việt cổ từ xưa đã biết lấy lá buộc lại làm vật che mưa, che nắng. Nón từ xưa đã được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến.

Đi khắp đất nước Việt Nam xinh đẹp, đâu đầu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh chiếc nón. Chiếc nón nhìn đơn giản là thế nhưng để tạo ra một chiếc nón đẹp đòi hỏi bàn tay công phu, khéo léo của người làm. Làm nón phải tỉ mỉ từ khâu đầu tiên là chọn lá, phơi lá. Nón lá thường được làm từ lá cọ. Lá không được quá non cũng như quá già. Trước khi đưa vào làm nón, lá phải được phơi nắng cho thật khô, thật mềm và giữ được lâu. Sau đó lá sẽ được mang đi sấy trắng. Những chiếc lá trắng nhất được dùng để làm những chiếc nón tinh xảo nhất, giá bán thường cao hơn những chiếc khác. Ngoài lá nón, vành nón cũng là bộ phận hết sức quan trọng của chiếc nón. Vành nón chính là xương sống của nón. Vành nón được làm từ những thanh lứa khô và dẻo. Dưới bàn tay khéo léo của con người, những thanh lứa ấy được vót thật tròn và mịn. Sau đó được uốn thành những vòng tròn có đường kính to, nhỏ khác nhau. Các vành nón được xếp lên khuôn nón. Một chiếc nón có 16 vòng tất cả, vòng to nhất có đường kính khoảng 50 cm, những vòng tiếp theo càng lên đỉnh càng nhỏ dần, vòng nhỏ nhất chỉ bằng đồng xu. Vành nón phải đều tăm tắp, không được méo mó, xộc xệch thì mới tạo ra được những chiếc nón đẹp. Sau công đoạn xếp vành lên khuôn là công đoạn xếp lá. Người thợ thủ công lấy từng chiếc lá, làm cho phẳng rồi xếp ngay ngắn lên khung nón. Mỗi chiếc nón gồm có 2 lớp lá, có một lớp mo lang ở giữa. Sau khi đã có một bộ khung hoàn hảo, cuối cùng là bước khâu nón bằng kim và cước mỏng như sợi chỉ. Những đường kim mũi chỉ lên xuống nhịp nhàng sẽ gắn chặt lá nón và vành lại với nhau. Công đoạn này đỏi hỏi người làm phải thật tỉ mỉ để khâu nón cho đẹp cũng như không bị mũi kim đâm vào tay. Chiếc nón hoàn thành xong được quét một lớp dầu bóng để thêm bền và tăng tính thẩm mĩ. Quai nón được buộc đối xứng ở hai bên. Quai nón thường làm từ nhung, lụa hay chỉ với những màu sắc: cam, đỏ, hồng, tím…

Nón đã trở thành một người bạn hết sức gần gũi hằng ngày. Nón không chỉ che nắng, che mưa mà còn giúp xua đi cái nắng hè oi bức. Nón là vật bất li thân với các bà, các chị. Nón theo người nông dân ra đồng. Những cô thiếu nữ mặc áo dài trắng đội nón lá bước đi trên phố làm bao ánh mắt phải ngước nhìn chính là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Nón còn có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của người dân Việt. Nón đi vào những câu ca dao, điệu hò, nón trở thành đạo cụ để biểu diễn nghệ thuật. Những màn múa nón duyên dáng trên sân khấu luôn khiến người xem không thể rời mắt. Trong những đám cưới truyền thống, nón là vật mà mẹ chồng trao cho con dâu, luôn chứa đựng biết bao tình cảm.

Nón cũng có nhiều loại. Có thể kể đến nón ngựa hay nón Gò Găng ở Bình Định, nón quai thao gắn với những câu hò của liền anh, liền chị trong ngày hội, nón bài thơ nổi tiếng của Huế là loại nón trắng và mỏng, có in một vài câu thơ trên nón, nón thúng tròn bầu giống cái thúng, ta vẫn hay gọi là “nón thúng quai thao”. Tuy nhiên, thông dụng hơn cả vẫn là nón hình chóp. Giá một chiếc nón trên thị trường hiện nay khoảng từ vài chục đến vài trăm nghìn đồng.

Trải qua bao năm tháng, ở nước ta hiện nay vẫn còn một số làng nghề làm nón nổi tiếng như: làng Chuông(Hà Tây), làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy), đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế). Những làng nghề này ngoài sản xuất ra những chiếc nón công phu còn là nơi thu hút khách du lịch đến thăm và trải nghiệm thử những công đoạn làm nón.

Từ lâu, nón đã không chỉ là một người bạn gần gũi mà còn trở thành một nét đẹp trong văn hóa của người Việt Nam. Nhìn thấy hình ảnh chiếc nón lá, ta như thấy cả tâm hồn của người Việt, những con người chất phác, hiền lành, đôn hậu:

“Ôi nón bài thơ của xứ nhà

Có bàn tay nhỏ nở như hoa

Có thành phố cổ giàu mưa nắng

Bóng nón đi về thêm thiết tha”

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  12

Nghĩ đến Việt Nam, mọi người sẽ nghĩ đến những nét đẹp văn hoá khác nhau. Nón lá Việt Nam là một trong những nét đẹp cổ truyền, biểu tượng cho văn hoá của người dân Việt Nam.

Về lịch sử nguồn gốc của nón lá có lẽ khó có thể chắc chắn được nón lá ra đời vào thời kì nào. Bởi từ xa xưa trong những câu thơ dân gian hình ảnh nón lá đã xuất hiện:

“Dáng tròn vành vạnh vốn không hư,

Che chở bao la khắp bốn bờ…”

(Thơ cổ)

Cũng có nhiều tài liệu ghi chép, nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỉ thứ XIII đời nhà Trần, cách đây khoảng 3000 năm. Nhưng theo nhiều thống kê lại có những ghi chép khác. Như vậy có thể khẳng định, nón lá có mặt ở Việt Nam từ rất lâu đời.

Theo thông thường, chiếc nón khi ra đời sẽ được đạt tên theo vật liệu tạo ra nó. Như nón lá, nón rơm, nón đệm, nón dừa,… Chất liệu làm nên chiếc nón lá rất phong phú nhưng lại rất gần gũi với người dân Việt Nam.

Nón lá có dáng hình chóp, vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội. Mỗi loại nón lại có kích thước rộng tròn khác nhau. Nón ba tầm có vành rộng nhất. Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quang cũng thấp nhất. Hay nón Nghệ, rộng trên 80 cm, sâu 10 cm.

Để tạo nên được một chiếc nón hoàn hảo cần rất nhiều vật dụng cũng như công sức và thời gian. Vật dụng làm nón gồm: lá, chỉ, khung nón,… Lá thì lấy từ hai loại cây giống như lá kè, có sứa nhỏ, mọc ở những vùng đồi núi hoặc có thể dùng lá cọ, rơm, tre, lá cối, lá hồ. Sợi chỉ dùng để khâu nón là sợi dây rất dai lấy từ bẹ cây móc. Mỗi chiếc nón có hoặc không có dây đeo làm bằng vài mềm hoặc nhung, lụa để giữ trên cổ. Khung nón làm bằng tre, loại tre cật Tây Ninh, khung hình chóp. Khung và bộ vành vơi 16 chiếc vòng lớn nhỏ được chuốt nhỏ nhắn, tròn và khéo, cân xứng nghệ thuật và nhẹ nhàng. Sau khi chọn được vật liệu tốt, người thợ phải mang tàu lá nón đi là bằng cách dùng một miếng sắt được đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho thẳng. Lửa phải vừa độ, không nóng quá, không nguội quá. Tiếp đó, xếp lá nón lên khung và khâu lại cẩn thận, tỉ mỉ. Thời gian làm nên chiếc lá rất lâu vì phải cẩn thận từng khâu. Hoàn thành xong chiếc lá, người thợ sẽ quét lên đó một lớp dầu bóng để chiếc nón không bị mốc và bền lâu. Người thợ sau khi làm xong thường sẽ trang trí lên nón những bài thơ hoặc những hình vẽ thêu chỉ đẹp mắt.

Nón lá đi vào đời sống nhân dân ta lâu đời bởi vậy được phân chia thành nhiều loại. Nổi tiếng trong đó phải kể đến nón quai thao, nón Huế, nón Ba Đồn,… Mỗi loại mang một vẻ đẹp của vùng miền trên đất nước Việt Nam.

Từ khi có mặt, nón lá đã gắn liền với con người đất Việt bao thế kỉ qua. Chiếc nón theo chân người nông dân ra đồng, giúp những bác nông che nắng, che mưa. Chiếc nón theo tay những nghệ sĩ đi vào thơ ca:

“Ai ra xứ Huế mộng mơ

Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”

Chiếc nón còn gắn liền với những người dân lao động, trở thành chiếc mũ đội đầu giản dị. Hơn thế, tà áo dài của người phụ nữ Việt cùng chiếc nón đã trở thành nét đẹp văn hoá vô cùng tự hào của con người đất Việt.

Xã hội dù có thay đổi. Cuộc sống có ngày một phát triển. Những nền văn hoá có thể giao thoa nhưng chiếc nón lá không bao giờ mất đi. Nó đã là một biểu tượng của cuộc sống, văn hoá và con người Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  13

Cùng với tà áo dài thướt tha, duyên dáng thì chiếc nón lá cũng đã trở thành trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Chiếc nón lá đơn sơ, mộc mạc đã góp phần làm tôn thêm vẻ đẹp hiền dịu, thang khiết của những người phụ nữ Việt Nam đậm chất Á Đông. Chiếc nón lá gắn liền với lịch sử dân tộc, cùng với hình ảnh tươi đẹp đôn hậu của dân tộc vươn ra đến tận năm châu.

Chiếc nón lá đầu tiên được in trên họa tiết của trống đồng, hay những mái đình mái chùa cổ kính. Chiếc nón lá trên những tượng hay chạm khắc đấy từ ngàn đời nay đã đi cùng năm tháng và gắn bó với những nét đẹp của văn hóa dân tộc, để cùng với tà áo dài làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam.

Chiếc nón lá có hình chóp, phần dưới to và tròn còn phần trên nhọn dần lên. Chiếc nón lá được làm bằng lá cọ, người dân phải đi lấy rồi sau đó quét lên một lớp dầu cho bóng và bền lớp vỏ nón. Xung quanh chiếc nón được quấn bởi các vòng tre nhỏ, được tuốt kĩ càng, trau chuốt để cố định hình dạng cho chiếc nón. Bên trong nón ở hai bên có quai nón được thêu bằng những đường chỉ đỏ để buộc dây nón. Ngoài ra để làm cho chiếc nón thêm đẹp, sáng tạo và màu sắc thì người thợ làm nón có thể in lên đó hình ảnh những bông hoa hồng, hoa sen, hay những cô gái Việt Nam thướt tha trong ta áo dài truyền thống. Chiếc nón lá đơn sơ bình dị như vẻ đẹp tâm hồn mộc mạc của người phụ nữ Việt Nam. Chiếc nón lá có rất nhiều kiểu dáng và mẫu mã khác nhau, có nón bài thơ, nón quai thao, nón lá…Trải qua quá trình phát triển của dân tộc thì những mẫu mã, thiết kế tinh sảo, sáng tạo của chiếc nón càng được tăng thêm. Tuy nhiên vẫn phải tuân theo những quy định làm nón truyền thống. Có lẽ với mỗi người dân Việt Nam thì hình ảnh chiếc nón lá truyền thống đã in đậm vào tâm trí chúng ta, chưa bao giờ mất đi, hơn nữa chiếc nón lá cũng sống dậy cái hồn thiêng một thuở để rồi bất tử cùng thơ ca, nhạc họa.

Nón có rất nhiều loại, nón quai thao, nón bài thơ, nón lá…mỗi loại mang những hình dáng nhất định, cấu tạo khác nhau nhưng đều rất công phu và kĩ lượng. Chiếc nón lá từ xưa đã gắn với hình ảnh những người nông dân dãi nắng dầm sương nhờ nó để che nắng, che mưa. Ngoài ra chiếc nón lá cũng được dùng để trang trí gợi nên một không gian cổ xưa, những nét cổ truyền trong nhịp sống dân tộc. Chiếc nón lá cùng với tà áo dài đã trở thành biểu tượng của người dân đất Việt. Có lẽ với du khách nước ngoài thì hình ảnh chiếc nón lá đã rất quen thuộc, nó là món đồ lưu niệm ý nghĩa, thiêng liêng để họ giành tặng cho người thân của mình. Như vậy chiếc nón lá đơn sơ, mộc mạc rất đúng với nét đẹp mộc mạc, bình dị của người dân Việt Nam sau lũy tre làng. Mang trên mình những nét đẹp truyền thống, cổ điển rất Việt Nam, rất Á Đông chiếc nón lá chưa bao giờ và không bao giờ mất đi trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc.

Để giữ cho chiếc nón bền và đẹp thì khi sử dụng chúng ta cần lưu ý một số điều sau. Không được dùng nón để quạt, để ngồi như vậy sẽ làm mép nón bị méo, bị gãy. Hơn nữa chiếc nón là một vật dụng thân thiết và gần gũi như vẻ đẹp mộc mạc của người dân Việt Nam nên chúng ta không nên dùng nó để kê hay ngồi như vậy chẳng phải đã làm mất đi vẻ đẹp quý báu của truyền thống dân tộc hay sao.

Cùng với sự phát triển đất nước, có rất nhiều những loại vật dụng hiện đại, tiện ích khác như ô, mũ..để giúp con người che nắng che mưa nhưng chiếc nón lá vẫn là một đồ vật không thể thiếu trong đời sống tâm hồn người Việt. Nó chưa đựng những gì thiêng liêng, cao quý của tâm hồn người Việt, lỗi sống người Việt chứ không chỉ là những giá trị sử dụng khác.

Chiếc nón lá bình dị, đơn sơ đã trở thành nét đẹp duyên dáng, âu yếm trong lòng người Việt Nam ta xưa và nay vẫn vậy. Không bao giờ, để cho những sự xâm lăng về văn hóa xâm chiếm đi những gì bất di bất dịch của hồn người một thời. Chiếc nón lá như người bạn luôn gắn bó với người nông dân Việt không quản nắng mưa, những màu phai của nón cũng giống như những tần tảo sớm hôm của cuộc đời con người Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  14

Nón lá là hình ảnh quen thuộc, gần gũi đối với người phụ nữ Việt Nam từ xưa tới nay. Chiếc nón lá gắn với tà áo dài truyền thống, với lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán của Việt Nam. Và nón là chính là biểu tượng của Việt Nam đối với bạn bè các nước năm châu, là linh hồn, là tinh hoa của nét đẹp nghìn năm văn hiến.

Thật vậy, đi đâu trên đất nước Việt Nam, chúng ta đều bắt gặp hình ảnh chiếc nón là mộc mạc, chân chất nhưng lại ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. Nón lá không chỉ là vật dụng của người phụ nữ chân quê, mà nó còn là món quà tinh thần mà Việt Nam dành tặng các nước trên thế giới. Không phải đi đâu, người ta cũng biết đến nón lá Việt Nam có tầng sâu ý nghĩa. Tất cả đều có nguyên do của nó.

Nón lá xuất hiện từ rất lâu, khoảng 2500-3000 TCN và được lưu truyền cho đến ngày nay. Đối với người phụ nữ Việt thì nón lá lá biểu tượng quan trọng trong cuộc sống của họ. Từ trong những làn điệu dân ca, đến những lời thơ, câu văn đều thấp thoáng hình ảnh chiếc nón lá Việt Nam đi liền với tà áo dài truyền thống.

Để tạo ra chiếc nón lá như hiện nay, cần sự tỉ mỉ và kì công của người làm nón. Phải có cái tâm, cái tình thì mới tạo nên được những chiếc nón có thiết kế tài tình và họa tiết tỉ mỉ như vậy. Ngay từ khâu lựa chọn nguyên liệu đã thấy được sự kì công của người đan nón. Làm nón cần cả tấm lòng chứ không phải chỉ cần có đôi tay. Những người thổi hồn vào những chiếc nón là những người thực sự có tâm.

Nón lá có thể được làm từ lá cọ hoặc lá dứa tùy mỗi vùng miền. Sự khác nhau của nón lá ở mỗi loại được thể hiện rõ nét trên từng sản phẩm. Rất dễ dàng để người dùng có thể nhận ra sự khác biệt này. Ở khu vực Nam Bộ với đặc trưng trồng nhiều dừa nên nghề làm nón phát triển mạnh mẽ và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Khi lựa chọn lá cọ hoặc lá dừa cũng cần phải cẩn thận chọn lá dày, màu xanh đậm, không bị rách, có nổi gân để làm nón đẹp và chắc chắn nhất. Khi chọn lá xong cần phải phơi lá cho thật mềm tùy thời gian để tạo độ đàn hồi cho chiếc lá trong quá trình làm ra sản phẩm.

Một khâu quan trọng không kém chính là làm vành nón, nó sẽ tạo nên chiếc khung chắc chắn có thể giữ được lớp lá ở bên ngoài. Tre cần được gọt giũa thật mềm và dẻo dai, trau chuốt tỉ mỉ. Khi uốn cong cần cẩn thận để không bị gãy hoặc bị bẻ cong. Bởi vậy khâu chọn tre làm vành nón cũng cần cẩn thận và thật tỉ mỉ.

Sau khi đã làm được khung nón thì người làm nón bắt đầu chằm nón, tức là gắn kết vành nón với lá nón làm sao cho hai cái này kết dính, không tách rời khỏi nhau. Làm giai đoạn này càng tỉ mỉ thì chiếc nón sẽ được hoàn thành một cách chắc chắn và đẹp mắt nhất.

Công đoạn cuối cùng chính là phơi nón và bôi lên nón lớp dầu thông bóng loáng. Việc làm này để tạo độ bền, tránh hư hỏng khi có mưa hoặc nắng.

Chiếc nón lá là biểu tượng của người phụ nữ Việt, gắn với đời sống tinh thần của họ. Đi đâu trên đất nước này, chúng ta cũng sẽ bắt gặp được hình ảnh chiếc nón lá. Đó là nét đẹp, nét duyên của người phụ nữ Việt nam mà không phải đất nước nào cũng có được. Nó là biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ. Nón lá đi liền với tà áo dài, tạo nên một vẻ đẹp rất Việt Nam.

Nón lá là sản phẩm của Việt Nam, biểu tượng cho phụ nữ Việt và cho truyền thống Việt.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  15

Trên đất nước Việt Nam có khoảng trên năm mươi dân tộc được chia ra nhiều vùng miền khác nhau. Nhưng có ba khu vực chính: Bắc – Trung – Nam. Ở mỗi miền có phong tục tập quán riêng. Nếu nói về trang phục thì chiếc áo tứ thân là vật dụng đi kèm là nón quai thao sẽ là đại diện cho người Bắc. Còn ở miền Trung và miền Nam thì có áo dài nói chung áo bà ba nói riêng và người bạn đồng hành với chúng không ai khác chình là chiếc nón lá thân quen. Nó làm chiếc áo dài hay áo bà ba thêm phần duyên dáng và dịu dàng, tôn thêm nét đẹp cho người phụ nữ Việt.

Chiếc nón lá là một nhân tố của lịch sử lâu đời. Tiền nhân của nón lá được chạm khắc trên chiếc trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịch từ khoảng 2500 – 3000 trống đồng năm trước công nguyên. Trải qua biết bao thời kì chống giặc ngoại xâm, nghề chằm nón vẫn được duy trì và tồn tại cho đến nay. Và hiện nay các làng làm nghề chằm nón như làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy) và ở Phủ Cam (Huế) là làng nón đặc biệt nhất,… những làng nghề này đã tạo ra các sản phẩm công phu và nó cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch.

Một chiếc nón lá đẹp phải trãi qua rất nhiều công đoạn. Trước tiên là khâu chọn lá, phơi lá, chọn chỉ đến mức tinh xảo trong từng mũi kim. Lá làm nón có thể dùng lá dừa hay lá cọ.

Lá dừa: để có được lá dừa thì phải mua từ trong Nam. Lá được vận chuyển và được làm trước khi chuyển đến nơi. Sau đó, chọn lọc lá để xử lí với lưu huỳnh nhằm đảm bảo được độ bền về thời gian và màu sắc của lá. Dẫu việc chọn lá có công phu nhưng chiếc nón làm ra cũng không sánh bằng nón được làm từ lá cọ.

Lá cọ: để khoác lên cho nón một chiếc áo với chật liệu tốt, người may phải công phu hơn từ việc chọn lá cho đến việc may và khâu. Những chiếc lá cọ phải có những yếu tố sau: lá non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá cũng trắng xanh. Nếu gân và thân lá đều trắng thì chiếc nón làm ra sẽ không được đẹp.

Một chiếc nón đạt đầy đủ tiêu chuẩn là phải có màu trắng xanh với những gân lá màu xanh nhẹ, mặt phải bóng, khi đan lên nón thì màu của gân nổi lên bề mặt thì mới đẹp mặt. Để đạt được điều dó, phải làm đúng theo các qui trình một cách tuân thủ.

Sấy khô phải đúng kĩ thuật, sấy trên bếp than (đối với lá cọ thì không phơi nắng). Sau đó thì phơi sương từ 2 đến 4 giờ cho lá mềm ra. Rồi dùng một búi vải và một miếng gang đặt trên bếp than có độ nóng vừa phải để ủi sao cho từng chiếc lá được phẳng. Mỗi chiếc lá phải được chọn lựa kĩ càng và cắt với cùng độ dài là 50cm (lá cọ).

Với cây mắc sắt, những người thợ làm nón (thường là đàn ông) chuốt từng nan tre sao cho tròn đều và có đường kính rất nhỏ, thường chỉ lớn hơn que tăm một chút. Sau đó uốn nan tre này thành những vòng tròn từ lớn đến bé và đều được bóng bẩy. Mỗi cái nón sẽ có 16 nan tre đã được uốn vòng như thế này. Những vòng ấy sẽ được đặt vào một khung bằng gỗ hình chóp theo vị trí từ dưới lên từ lớn đến bé. Sau đó người thợ sẽ xếp lá lên khung, người xếp lá phải khéo và đều tay để những chiếc lá không bị chồng lên nhau hoặc xô lệch.

Kể về quá trình làm nón mà không nhắc đế nghệ thuật làm nón bài thơ ở Huế thì thật thiếu sót. Đặt biệt nón bài thơ của xứ Huế rất mỏng vì chỉ có hai lớp lá với lớp lá thứ nhất chỉ gồm hai mươi lá, còn lớp ngoài chỉ có ba mươi lá và lớp bài thơ thì được chèn ở giữa. Khi xây lá lợp lá, người làm phải thật sự khéo léo sao cho khi chêm lá sẽ không làm cho lá bị chồng lên nhau hay bị xô lệch, như vậy thì chiếc nón lá của chúng ta sẽ có được độ thanh và mỏng.

Khi soi nón dưới ánh nắng, người ta sẽ thấy được bài thơ, hay nhìn rõ được chiếc cầu Tràng Tiền hoặc chùa Thiên Mụ. Chính những chi tiết đó đã tạo được nét đặc sắc riêng của nón bài thơ ở xứ Huế. Khi đội nón bài thơ người đội nó chắc hẳn hãnh diện lắm vì đã mang trên mình những danh lam thắng cảnh hay một bài thơ mang đậm sắc Việt.

Sau khi xếp lá cho đều và ngay ngắn lên vành, người ta bắt đầu chằm nón. Nón được chằm bằng những sợi nilông dẻo, dai và săn chắc có màu trắng trong suốt. Các nón lá không được xộc xệch, đường kim chỉ phải đều. Khi nón lá được chằm hoàn tất người ta đính thêm cho chớp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên cho nón. Sau khi cho nón một điểm nhấn, thì người thợ sẽ phủ lên nón lớp dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền. Ở hai vòng tròn lớn bằng nan tre phần dưới của hình chóp, khoảng nan thứ ba và thứ tư, người thợ sẽ dùng chỉ đôi kết đối xứng hai bên để buộc quai.

Quai nón thường được làm bằng lục, the, nhung,.. với màu sắc tươi tắn như tím, hồng đào, xanh thiên lí,..càng làm cho nón thêm phần xinh xắn và càng làm tăng độ duyên dáng cho người đội nón. Chiếc nón lá cũng giống như người phụ nữ Việt Nam, không chỉ đẹp ở từng chi tiết mà còn đẹp ở cách thể hiện ở phần dáng nón. Những người thợ đã gởi gắm vào từng “đứa con’ những hình ảnh mang nét truyền thống văn hóa dân tộc.

Từ Bắc vào Nam, từ làng Chuông ở Tây Hồ đến Ba Đồn, những chiếc nón lá trải đi khắp các nẻo đường và trở nên thân quen trong đời sống thường nhật của người phụ nữ. Chiếc nón không chỉ là vật dụng thân thiết, mà còn là người bạn thủy chung với người lao động đội nắng dầm mưa, đội nón ra đồng, đội nón đi chợ,… nón còn là những chiếc quạt xua đi những mệt mỏi, mồ hôi dưới nắng hè gây gắt mà còn làm tăng nét duyên và tăng thêm nét nữ tính của người phụ nữ.

Vào mỗi buổi tan trường, hình ảnh những cô nữ sinh với tà áo dài trắng tinh khôi, nghiêng nghiêng dưới vành nón lá là lúm đồng tiền làm duyên đã làm say lòng, là cảm hứng nghệ thuật của bao văn nhân, nghệ sĩ,… Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái dưới bộ áo dài duyên dàng thể hiện nét dịu dàng, mềm mại kín đáo của người phụ nữ Việt Nam đã nhiều lần xuất hiện và đều nhận được những tràng pháo tay tán thưởng của khán giả.

Muốn nón lá được bền chỉ nên đội dưới nắng, không nên đi trong mưa. Sau khi dùng nên cất vào chỗ bóng râm, không phơi ngoài nắng sẽ làm cong vành, lá nón giòn và ố vàng làm mất tính thẩm mĩ và giảm tuổi thọ của nón. Nón lá là một những bề mặt của đất nước Việt Nam ta, vì thế hãy giữ gìn nó thật kĩ tránh làm hỏng nón. Hãy yêu quý cái nét truyền thống lâu đời đó, nón lá sẽ là một người bạn luôn sát cánh cùng chúng ta dẫu có nắng mưa gian khổ.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  16

Cùng với chiếc áo bà ba, chiếc “nón lá” đã theo chân người phụ nữ miệt vườn, cùng với chiếc xuồng ba lá bồng bềnh theo con nước lớn, nước ròng, dầm mưa dãi nắng sớm chiều… Từ lâu chiếc nón lá đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong trang phục của người phụ nữ miền Nam nói riêng và phụ nữ Việt Nam nữ chung.

Ngày nay chiếc nón lá là hình ảnh quen thuộc và gần gũi với mọi người, nhưng có ai biết đâu để có chiếc nón lá đội đầu che mưa, che nắng và để làm duyên, ngày xưa tổ tiên chúng ta đã đổ bao tâm sức đề nghĩ ra và làm nên chiếc nón lá này. Nón lá có dạng hình chóp. Nón lá có nhiều loại khác nhau. Nón Gò Găng (sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa, thường dùng khi đội đầu cưỡi ngựa), nón quai thao (người miền Bắc Việt Nam thường dùng khi lễ hội), nón bài thơ (ở Huế là thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hoặc một vài bài thơ), nón dấu (nón có chóp nhọn của chú lính thời xưa)…

Nón làm bằng nhiều vật liệu khác nhau như lá cọ, lá dừa, lá buông,… nhưng chủ yếu làm bằng lá nón. Lá nón nguyên liệu được sử dụng là lá không quá non cũng không quá già – lá thường đang còn búp vừa đủ một tháng tuổi và phát triển hết chiều dài, chiều ngang, chưa chuyển sang màu xanh đậm, các bẹ lá ôm khít với nhau, chưa bung ra, có độ mềm với chiều dài khoảng 40 – 50 cm.

Để làm ra được một chiếc nón lá vừa đẹp, vừa bền là cả một nghệ thuật và công phu của những nghệ nhân, đòi hỏi sự tỉ mỉ trong từng công đoạn của quy trình sản xuất. Trong khâu kỹ thuật, thợ làm nón lá có kinh nghiệm chọn lá dù cô cũng còn giữ được màu xanh nhẹ, 16 vành nức thường mảnh được vuốt tròn trĩnh, tỉ mỉ và công phu. Lá được ủi nhiều lần, cẩn thận cho thật phẳng và láng.

Hình dáng của chiếc nón lá phụ thuộc rất nhiều vào khung chằm. Khung chằm ( còn được gọi là khuôn nón ) phải được đặt riêng với yêu cầu cụ thể để dáng của chiếc nón lá sau này cân đối, đẹp mắt, vừa ý. Người thợ làm khung nón giữ kỹ thuật tạo dáng, khoảng cách giữa các vành và độ tròn của vành… như một thứ gia bảo cha truyền con nối, theo một thẩm mỹ dân gian “hay mắt” mà thật ra là cả một tỷ lệ thích hợp đã được nhiều đời và nhiều vùng kiểm nghiệm “thuận mắt ta ra mắt người”.

Khi xây và lợp lá phải thật khéo, nhất là khâu sử dụng lá chêm, tránh việc chồng nhau nhiều lớp để sao cho nón thanh và mỏng, mũi chỉ chằm phải để kẽ lá ôm khích lấy nhau. Khi nói chằm hoàn tất người thợ đính cái xoài bằng chỉ màu rất đẹp vào chóp nón sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để thành nón bóng láng và giữ được bền.

Từ khi có mặt với chức năng là “cái nón”, thì chiếc nón đã theo chân người nông dân ra đồng, theo người phụ nữ đi sớm về trưa, được và dùng để quạt cho cháu vào giấc ngủ, được các bà mẹ vỗ về đội vào đầu và nắm tay dìu con đến trường. Nón cũng được các bà mẹ sụt sùi nước mắt đặt nhẹ lên đầu người con gái thương yêu trước khi lên xe hoa về nhà chồng. Chiếc nón lá còn có mặt trong sách vở, thi ca, qua câu hò tiếng hát của người bình dân để ca ngợi tình yêu trai gái… và chiếc nón thực sự trở thành một phần trong cuộc sống vô cùng đẹp và lãng mạn của đời mình.

Từ lâu chúng ta đã biết đến chiếc nón lá như một đồ vật rất quen thuộc bởi nó đã gắn bó và trở thành một phần trong cuộc sống của người dân Việt Nam. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, duyên dáng và thực tiễn trong đời sống nông dân “một nắng hai sương” trên cánh đồng, bờ tre làng. Cùng với chiếc áo dài thì chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng, một hình ảnh truyền thống của văn hóa Việt Nam.

Chiếc nón lá đã tự nhiên đi vào huyền thoại là một nét đẹp văn hóa, mang cái tâm hồn dân tộc gợi cảm ứng cho thơ ca. Chiếc nón lá chỉ từ 45 – 50 nghìn đồng mà nó tô lên nét đẹp, vẻ duyên dáng của người Việt Nam.

Do hiện đại có rất nhiều công ty sản xuất ra biết bao nhiêu là ô, mũ,… xinh xắn và lộng lẫy, nhưng trên khắp các nẻo đường nông thôn đến thành thị, hình ảnh chiếc nón lá vẫn xuất hiện chứng tỏ sự tồn tại của nó cùng thời gian cả về giá trị sử dụng lẫn nét đẹp văn hóa thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.

Những đồ dùng muốn bền và đẹp thì cần bảo quản tốt, chiếc nón lá cũng vậy, sau khi đã sử dụng, người phụ nữ Việt Nam đều mắc lên và bao lại cẩn thận. Cũng vì thế mà sử dụng sẽ lâu hơn. Dẫu chiếc nón lá làm ra không dành riêng cho phái nữ, nhưng nói đến cái nón lá xưa nay người mình có thói quen liên tưởng đến người phụ nữ “nón nghiêng che” đầy ấn tượng!

So với chiếc nón lá các vùng miền khác thì nón Huế đi vào thơ ca, nhạc họa nhiều nhất. Hình ảnh cô gái Huế với chiếc nón lá bài thơ, khi che trên đầu, khi cầm trên tay, khi nghiêng nghiêng e thẹn đã tạo nên một vẻ đẹp rất Huế. Đã từ lâu rồi, khi nhắc đến nón bài thơ, người ta đều nghĩ ngay đến Huế.

Chiếc nón lá Việt Nam là một vật dụng không thể thiếu và là người bạn thân thiết đối với con người. Tuy nó mang giá trị vật chất không cao nhưng về giá trị tinh thần thì không chiếc nón nào so sánh được.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  17

“Nón nầy che nắng che mưa

Nón nầy để đội cho vừa đôi ta” (Ca dao)

Tôi là chiếc nón lá Việt Nam không xa lạ với con người, ngày nay ở hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa nón và áo dài duyên dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản sắc văn hoá dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc thù của phụ nữ Việt Nam, chắc chắn không ai chối cãi. Nếu mặc áo đầm, hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng.

Tôi dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Họ hàng nhà nón được chia thành nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:

Nón dấu: Nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa

Nón gò găng hay nón ngựa: Sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa

Nón rơm: Nón làm bằng cộng rơm ép cứng

Nón quai thao: Người miền Bắc thường dùng trong lễ hội

Nón cời: Nón rách

Nón Gõ: Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa

Nón lá Sen: Cũng gọi là nón liên diệp

Nón thúng: Thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.

Nón khua: Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa

Nón chảo: Thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng

Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang

Nón bài thơ: Ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v.v

Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng tới tôi, nhưng ít người để ý đến tôi có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm. Tôi tuy giản dị rẻ tiền nhưng để tạo nên tôi cần người thợ phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy.

Người phụ nữ thì chằm nức vành. Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Nghề làm nón lá thường sản xuất từ miền Bắc và miền Trung trong các làng quê sau vụ mùa. Vì sao ở các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón? Tuy vật liệu làm nên tôi rất đơn giản nhưng chúng không xuất hiện ở miền Nam nên không có nghề chàm nón.

Ngày nay dù đã phát triển nhưng trên những cánh đồng lúa xanh tươi ngoài Bắc, trong những trưa hè nắng gắt, người ta còn dùng lá tơi để che nắng, giống như con công đang xòe cánh. Người ta chặt những bé lá còn búp, cành bé lá có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá, từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại.

Bé lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng, dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của nón.

Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có 6 cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ khác nhau lên khung. Cái khung này phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng cỡ khi lợp lá và chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng.

Tôi thường chỉ 16 vành tròn làm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, tôi còn được thêu trên mình những bài thơ nhẹ mỏng chỉ 2 lớp lá trong chen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền lâu hơn dày có 3 lớp phần trong lót thêm loại lá đót, (loại cây này giống cây sậy, khi trổ bông người ta lấy bông làm chổi) Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, nón rộng đường kính thường 41cm, người ta phết phía ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong. Để có được một chiếc nón, phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ…

Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau này phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. Họ hàng nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt Nam.

Nón em chẳng đáng mấy đồng,

Chàng mà giật lấy ra lòng chàng tham

Nón em nón bạc quai vàng

Thì em mới dám trao chàng cầm tay

Tiếc rằng vì nón quai mây

Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm

Nón quai thao, hay nón thúng các cô gái Bắc thời xưa chưa chồng thường dùng, ngày nay đến Hà Nội không còn thấy ai đội nón quai thao, trên đường phố cổ trầm mặc dưới bóng cây cổ thụ, thiếu nữ Hà Nội che dù màu, đội mũ lát, đội mũ tân thời, nhưng vào thăm Văn Miếu sẽ thấy trình diễn văn hóa, hát quan họ, các cô đều trang sức giống như thời xưa với chiếc nón quai thao (hình trên trong Văn Miếu)

Thủa xưa con gái sau khi lập gia đình, bổn phận làm vợ, làm mẹ, họ chỉ chú trọng đến niềm vui tận tụy làm tròn bổn phận trong gia đình, xao lãng những vẻ đẹp bề ngoài…

Chưa chồng nón thúng, quai thao

Chồng rồi, nón rách, quai nào thì quai

Chửa chồng, yếm thắm, đeo hoa

Chồng rồi, hai vú bỏ ra tầy giành.

Tua ống tơ ngà tha thướt gió

Vàng vàng lá lụa nắng tươi xinh

Khuôn hoa e lệ trong khuôn nón

Say mắt chàng trai tiếc gửi tình

Nhưng dép cong nghiêm bước thẳng đường

Đâu ngờ tơ nón gió vương vương

Chàng về, mắt đắm sầu xa vắng

Cả một trời xuân nhạt nắng hường (Chiếc nón quai thao – Anh Thơ)

Thân phận của những bóng hồng khi về chiều nhan sắc tàn phai:

Còn duyên nón cụ quai tơ

Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong

Dáng dấp con gái Việt Nam mềm mại, dịu dàng, nếu trên đầu nghiêng nghiêng vành nón trắng. Nụ cười, ánh mắt giấu sau vành nón ấy mới cơ hồ e ấp, rạo rực vì những bâng khuâng… Mỗi thiếu nữ đều có một cái duyên để làm say đắm người khác phái. Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài những điều đã được ca dao truyền tụng, Có nàng đẹp nhờ mái tóc thề hay cắt ngắn, đôi chân mày cong vòng như vầng trăng non dưới vành nón lá:

Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón

Chiều mùa thu mây che có nắng đâu

Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu

Sẽ làm khô làn môi en dịu ướt

Còn tia mắt anh..

Có sao đâu mà em phải cúi đầu từ khước

Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước

Thì mười ngón tay em sao bỗng quấn quít đan nhau

Nửa vầng má em bỗng thắm sắc hồng đào

Đôi chân bước..anh nghe chừng sai nhịp. (Thu Nhất Phương)

Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn, bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn người ta còn cắt những bức tranh với chùa Linh Mụ, cầu Trường Tiền, con đò trên sông Hương… và đặc biệt nhất là vài câu thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế.

Sông Hương lắm chuyến đò ngang

Chờ anh em nhé, đừng sang một mình (Ca dao)

Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên (Nguyễn Khoa Điềm)

Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay

Nón bài thơ e lệ nép trong tay

Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ lựa nón, lựa quai, cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề.

Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ

Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ

Gió cầu vương áo nàng tôn nữ

Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ

Nón bài thơ hiện hữu trên khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của phụ nữ Huế, dùng nón lá nâng hay đựng xoài, cũng tạo nên nét đẹp mỹ miều.

Anh về Bình Định ba ngày

Dặn mua chiếc nón lá dày không mua

Nón bài thơ đặc sản Huế nón Gò Găng ở Bình Định còn gọi là nón ngựa làm bằng vành tre cật, chuốt nhỏ như tăm, đan thành ba lớp mê sườn; bên ngoài phủ lớp lá kè non, chằm bằng những đường chỉ tàu trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh chóp được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long – lân – quy – phụng.

Quai nón được làm bằng lụa xanh hoặc đỏ, bản rộng và đều người ta chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc sức. Vì vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí, những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dần theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn, nón chũm, rẻ hơn nhiều.

Các loại này đều không có chụp bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Ở các vùng làm nón, ngày cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên có câu ca dao:

Cưới nàng đôi nón Gò Găng

Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn

Ngày nay các cô gái làm nón hầu như không còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai – một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này phải qua nhiều công đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm và nức. Việc làm lá đòi hỏi nhiều tính tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm.

Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, Nhơn Thành – An Nhơn. Nơi đây có một chợ nón lớn họp thường ngày từ 3 – 4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25 -30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước 50.000 chiếc nón. Gần đây nón Gò Găng còn được xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người. Như vậy, từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt vườn miền Nam.

Nhớ nón Gò Găng

Vầng trăng đập đá

Sông dài sóng cả

Người quân tử,

Khăn điều vắt vai..

Đời sống văn minh, phát triển nhưng dòng họ nhà nón lá vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  18

Đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam là tà áo dài duyên dáng và chiếc nón lá nghiêng nghiêng. Hình ảnh chiếc nón lá quen thuộc và gần gũi với đời sống người phụ nữ, không chỉ giúp che mưa, che nắng mà đó còn là một nét đẹp giản dị.

Hình ảnh chiếc nón lá đơn sơ, bình dị đã có từ rất lâu đời, và cho đến tận ngày nay nó vẫn là một món đồ không thể thiếu đối với người dân lao động, đặc biệt là những người phụ nữ chất phác, cần cù, quanh năm với công việc ruộng đồng.

Nhìn bên ngoài, chiếc nón chỉ là một hình chóp, có cấu tạo hết sức đơn giản, chỉ vài tấm lá cọ, vài mảnh tre, cộng thêm những sợi chỉ màu là đã có ngay một chiếc nón lá mát rượi, duyên dáng.

Nhưng để có được một chiếc nón hoàn chỉnh, đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo tay của những người đan nón, phải trải qua rất nhiều công đoạn, từ khâu chuẩn bị nguyên liệu, đan nón, cho đến trang trí,… Đó là cả một lòng tâm huyết, sự yêu nghề và những kinh nghiệm quý báu được truyền từ đời này sang đời khác.

Để làm ra một chiếc nón đẹp và tinh xảo, đòi hỏi người làm phải chọn tỉ mỉ nguyên liệu từ ban đầu. Lá làm nón phải là những tàu lá cọ đã già, dày và có màu đậm, đặc biệt chiếc lá phải lành lặn, tròn đều. Công đoạn tiếp theo là phơi lá cho khô, thường thì phơi từ 2-3 nắng, nếu lá không được phơi kĩ thường sẽ có những đốm đen, những vệt xám và không có màu trắng đẹp.

Tre dùng để đan nón thường được chẻ nhỏ, sau đó gọt sạch cho thật mềm mịn không bị xước, rồi được uốn thành những vòng tròn theo thứ tự từ nhỏ đến to dần. Những chiếc sợi tre tuy nhỏ, nhưng được coi như là khung xương của chiếc nón lá, là yếu tố tạo nên hình hài cho chiếc nón và giữ cho chiếc nón luôn được thật chắc chắn.

Cuối cùng là sự kết hợp chặt chẽ giữa lá cọ và nan tre, lá được đan vào nón một cách khéo léo thông qua những đôi tay cần mẫn của những người nghệ nhân làm nón. Và hơn hết để tạo nên vẻ đẹp cho chiếc nón, làm cho chiếc nón lá có hồn hơn, khâu trang trí là không thể thiếu.

Những chiếc nón sau khi được đan xong, thường được trang trí những họa tiết bắt mắt như những mảnh hình xinh xắn về non nước Việt Nam, hay những loài hoa sặc sỡ sắc màu, thêm vài sợi chỉ màu buộc quanh để tô thêm vẻ đẹp quyến rũ cho chiếc nón lá. Và người ta không quên buộc thêm những chiếc quai bằng vải hoặc lụa. Cuối cùng những chiếc nón được đem ra phơi ngoài nắng một lần nữa để được chắc chắn hơn.

Chiếc nón lá là một vật dụng hết sức quen thuộc với người dân lao động Việt Nam, nó có thể che nắng che mưa rất hiệu quả, với tính năng gọn nhẹ, không thấm nước nó càng trở nên hữu dụng với mọi người. Ngoài ra, sau những giờ làm việc mệt nhọc, những trưa hè nóng bức chiếc nón lá cũng như một chiếc quạt, nhẹ nhàng mang từng cơn gió mát rượi về, những bác nông dân làm ruộng đồng, những người phụ nữ vất vả như cũng bớt đi nắng mưa, vơi đi chút mệt nhọc nào đó. Chiếc nón lá như một một người bạn giúp san sẻ bớt những gánh nặng của cuộc đời lam lũ.

Không chỉ có thế, ngày nay, chiếc nón lá còn là một phần của thời trang hiện đại. Chiếc nón lá luôn gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam bên tà áo dài thướt tha, chiếc nón lá như tô điểm thêm nét đẹp của người phụ nữ duyên dáng, hiền lành, chăm chỉ.

Chiếc nón lá gần gũi và hữu dụng luôn gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của chúng ta. Hình ảnh chiếc nón lá đã đi vào từng câu thơ, khúc hát, nó không chỉ là nét văn hóa mà là dáng hình thân thương đầy duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  19

“ Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che”.

Nón lá là một vật dụng quen thuộc đã đi vào thơ ca Việt Nam tự bao giờ. Nón lá đã góp phần tạo nên vẻ đẹp, duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam.

Nón lá Việt Nam có lịch sử lâu đời, hình ảnh tiền thân của nón lá được tìm thấy trên trống đồng Ngọc Lữ và tháp đồng Đào Thịnh. Từ xa xưa do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm mưa nhiều, tổ tiên ta đã biết lấy lá kết vào nhau để là vật dụng đội lên đầu che nắng che mưa. Dần dần chiếc nón lá đã hiện diện như một vật dụng cần thiết trong đời sống sinh hoạt hằng ngày.

Để làm được một chiếc nón lá đẹp thì việc chuẩn bị nguyên liệu cũng rất quan trọng là lá nón( hoặc có nơi dùng lá cọ), lá buông- một loại lá họ hàng với lá cọ( thường mọc ở vùng đồi núi trung du). Ngoài ra còn cần đến tre, nứa, cước. Để làm nón đẹp khâu chọn lá rất quan trọng. Lá nón màu trắng sữa, gân lá màu xanh nhẹ, lá bóng mướt là đẹp nhất. Người ta thường khai thác lá nón ở vùng đồi núi Phú Thọ, Vĩnh Phúc hay vùng đồi núi Việt Bắc, Trường Sơn, Tây Bắc. Sau khi cắt lá về phải xử lí đúng quy trình kĩ thuật.

Đầu tiên phải sấy khô lá bằng than củi sau đó phơi sương cho lá mềm. Khi lá đạt độ mềm đúng yêu cầu, dùng gang nóng bọc trong túi vải, là cho phẳng phiu. Sau đó người làm nón lại cẩn thận chọn lọc lá một lần nữa cho đồng màu, cắt bớt đầu đuôi để dài khoảng 50 cm. Để làm nón người thợ phải vô cùng khéo léo và tỉ mỉ. Người ta dùng 16 vành tre chuốt nhỏ, mỏng, dễ uốn, cuốn lần lượt từ thấp đến cao và nan lớn rồi nan nhỏ để dựng thành khung nón có hình chóp nhọn.

Khung nón được làm như vậy sẽ tạo dáng nón thanh thoát, hài hòa làm tôn lên vẻ đẹp của người đội nón. Dân gian có câu “ Đẹp nón nhờ người thắt, đẹp mặt nhờ người khuôn”.Sau khung làm khuôn là khâu lợp lá nón. Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải thật khéo tay làm sao để nón lá phân bố đều trên khung, hình dáng cân đối và khi khâu lá nón không bị chồng lên nhau.

Cuối cùng là công đoạn khâu nón, chỉ khâu bằng loại cước nhỏ trắng muốt. Người khâu phải căn cho mũi chỉ đều tăm tắp, uốn theo vành nón. Người thợ còn kì công thêu hình ảnh những cô thiếu nữ, đóa hoa hay cảnh đẹp quê hương có khi là cả một bài thơ. Một chiếc nón đẹp là cả sự chăm chút của người làm nón.

Ở nước ta có rất nhiều địa phương làm nón lá nổi tiếng. Ở miền Bắc có làng Chuông, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Miền Trung có làng nón Ba Đồn Quảng Nam và đặc biệt là nón bài thơ của Thừa Thiên Huế. Với người Việt Nam đặc biệt là những người nông dân, nón lá là vật dụng cần thiết. Nón lá dùng để che nắng, che mưa khi làm đồng, dùng thay chiếc quạt khi nghỉ giải lao trên đồng ruộng.

Với các cô gái, chiếc nón lá cùng với tà áo dài làm tôn lên vẻ kín đáo, dịu dàng. Nón lá là món đồ trang sức không cầu kì đắt tiền mà đẹp một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc như chính tâm hồn con người Việt Nam. Đâu đâu ta cũng thấy thấp thoáng những chiếc nón lá dù là đi chợ hay đi hội ta đều gặp các bà, các mẹ dưới nón lá nghiêng tre.

Nón lá cũng là vật dụng mà mẹ chồng trao cho con dâu trước khi về nhà chồng để cầu chúc cho cuộc sống vợ chồng trăm năm bền chặt. Đó cũng là món quà lưu niệm mà du khách nước ngoài mang về để tặng cho người thân. Nón được làm bằng lá nên khi sử dụng cần nhẹ nhàng, khi không dùng thì treo lên cao, tránh để rơi, dễ bị méo, thủng. Khi trời mưa có thể bọc ngoài nón một lớp túi bóng trắng mỏng, nếu bị ướt thì phơi khô tránh bị ố vàng.

Ngày nay có rất nhiều vật dụng như mũ, ô…ra đời dần dần có thể thay thế nón nhưng hình ảnh chiếc nón vẫn chiếm một vị rí quan trọng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam để rồi mỗi chúng ta cần có thái độ tôn trọng nét đẹp truyền thống này.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  20

Bên cạnh tà áo dài thân thương – một nét đẹp văn hoá truyền thống của người Việt, hình tượng chiếc nón lá cũng là một biểu trưng khiến chúng ta tự hào nhớ đến hai tiếng gọi thiêng liêng “Việt Nam” mỗi khi nhìn thấy ở bất kỳ nơi đâu. Chúng ta chắc hẳn không ai có thể quên được hình ảnh người con gái  Việt với “tà áo dài trắng nhẹ nhàng bay/nón bài thơ e lệ trong tay/thầm bước lặng, những khi trời dịu nắng”.Thật vậy, khởi nguồn từ cuộc sống dung dị đời thường, bước vào thơ ca nhạc hoạ, hình ảnh chiếc nón lá qua bao thế kỷ thăng trầm vẫn vẹn nguyên một nét đẹp truyền thống hiếm có.

Nón lá vốn bắt nguồn từ lâu đời trong chiều dài lịch sử nước ta. Từ thời sơ khai, hình ảnh chiếc nón đã được sử dụng như một biểu tượng chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ và thạp đồng Đào Thịnh, những công cụ xuất hiện trong khoảng ba nghìn năm trước công nguyên so với thời đại ngày nay.

Trải qua những biến động của từng thời kỳ lịch sử, hình ảnh chiếc nón lá xuất hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ, thơ ca văn hoá, khẳng định sự hiện diện của vật dụng này trong đời sống của người Việt từ lâu đời.

“Còn duyên nón vải quai tơ

Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong”

Hay:

“Ơ này cô mặc áo nâu

Đầu đội nón lá, đi đâu vội vàng?”

Lịch sử chứng kiến quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc với bao gian nan không chỉ giữ vững nền độc lập mà còn giữ vững nền văn hoá tránh mai một, lai căn, tạp dị với những âm mưu đồng hoá. Chiến tranh vẫn không khiến đất nước ta đánh mất đi những hình tượng truyền thống đẹp đẽ vốn có, trong đó có chiếc nón lá với bao làng nghề làm nón nổi tiếng vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Mấy ai quên được câu hát: “Muốn ăn cơm trắng cá trê/Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông”. Đặc biệt, vùng đất còn lưu giữ nhiều làng nghề làm nón truyền thống của nước ta hiện nay chính là xứ Huế mộng mơ, với những địa điểm cụ thể như làng Dạ Lê, làng Đồng Di, làng Phủ Cam,…Không chỉ là nơi gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc, những địa điểm này ngày nay đã trở thành địa danh du lịch, tham quan khi du khách nước ngoài có dịp ghé thăm và tìm hiểu văn hoá Việt Nam.

Để có thể tạo nên một chiếc nón lá hoàn chỉnh, quá trình làm nón thực chất cũng phải trải qua nhiều công đoạn công phu, tỉ mỉ. Người làm nón có thể được ví như một nghệ nhân thực thụ. Từ những nguyên liệu thô sơ, giản dị phổ biến ở vùng quê Việt Nam, những nghệ nhân ấy đã có thể phù phép trở thành chiếc nón lá kỳ công, tinh xảo, không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng mà còn đáp ứng tính thưởng lãm nghệ thuật.

Bắt đầu quá trình làm nón là công đoạn chọn lá. Lá sử dụng để làm nón là loại lá dừa thô hoặc lá cọ còn nguyên vẹn. Thông thường, lá cọ sẽ cho ra đời những chiếc nón tinh xảo, đẹp mắt hơn. Lá cọ dùng làm nón phải là loại lá đựa lựa chọn tỉ mỉ, màu trắng xanh, đường gân xanh rõ ràng, còn non vừa đúng chuẩn mà không phải quá già. Sau khi chọn được lá ưng ý, người làm nón tiến hành sấy khô lá bằng bếp than, sau đó mang ra phơi dưới trời sương khoảng độ từ hai đến bốn giờ để lá đạt được độ mềm, dai nhất định. Kết thúc công đoạn phơi lá, người làm nón phải trải và ủi phẳng lá bằng một miếng gang hơ qua lửa nóng. Lá dùng làm nón được cắt với độ dài đều nhau khoảng 50 cm.

Kế tiếp, đến công đoạn chuốt vành nón. Thông thường, công đoạn này cần đến sức khoẻ và sự nhanh nhẹn của những người thợ nam. Người này sử dụng một cây mác sắt, thực hiện chuốt lần lượt từng nan tre có đường kính rất nhỏ (nhỉnh hơn một chút so với que tăm tre) để các nan tre được tròn đều. Sau đó, uốn những nan tre đã chuốt thành các vòng tròn từ nhỏ đến lớn, tròn vành vạnh và đều nhau theo tỷ lệ kích thước (thường có 16 nan tre cho một chiếc nón). Những công việc này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình làm nón, có thể quyết định sự thành công ban đầu khi định dạng khung nón. Vì vậy, nếu nan tre không đều nhau thì phải thực hiện chuốt và uốn lại nhiều lần sao cho đạt đến một mức độ tiêu chuẩn nhất định. Những vòng nan tre sau đó được đặt lên khung hình chóp để tiến hành xếp lá lên khung. Công đoạn xếp lá đòi hỏi sự tỉ mỉ cao độ của người thợ làm nón. Các phiến lá xếp chồng lên nhau phải theo một chiều, trình tự nhất định và canh chỉnh sao cho không bị thiếu sót, dư thừa hay xô lệch.

Đặc biệt, nhắc đến chiếc nón lá không thể không nhắc đến một loại nón nổi tiếng đặc trưng: nón bài thơ của xứ Huế. Nón bài thơ được làm kỳ công và tỉ mỉ hơn hẳn các loại nón lá thông thường. Loại nón này rất mỏng, thanh thoát, nhẹ nhàng, được xếp chồng hai lớp lá với nhau và có một bài thơ được khéo léo xếp chồng giữa hai lớp lá. Khi soi lá lên ánh nắng, hình ảnh bài thơ hay các hình ảnh địa danh đặc trưng của Huế như chùa Thiên Mụ, tháp Bút, cầu Tràng Tiền,…hiện lên một cách kỳ diệu. Đây quả thực là sự kỳ công sáng tạo của người nghệ nhân.

Trở lại với quá trình làm nón lá, sau khi đã xếp các lớp lá đều khít chồng lên nhau, người thực hiện bắt đầu công đoạn chằm nón. Công đoạn này chính là việc sử dụng sợi nylon dẻo, dai, màu trắng trong suốt để chằm lên nhằm cố định lá và khung nón. Đường kim mũi chỉ khi chằm nón phải đều tăm tắp và không được đứt đoạn hay xô lệch nhau gây mất thẩm mỹ. Tại vòng nan thứ hai hoặc thứ ba từ dưới lên của chiếc nón, người thợ khâu thêm hai vòng chỉ đối xứng với nhau để buộc quai nón. Khi hoàn tất các đường chỉ, tại chóp nón, thợ làm nón đính thêm một mũi thêu chỉ bóng để chiếc nón đẹp mắt hơn.

Quai nón được làm bằng chất liệu mềm mại như vải lụa, nhung,…với các màu sắc rực rỡ hay đằm thắm đều có, tạo nét duyên dáng cho người đội nón. Chiếc nón có thể được tạo các đường thêu, hình thù đặc sắc như như hoa sen, hình ảnh các thiếu nữ,..trên mặt nón để góp phần tăng tính bắt mắt. Ngày nay, nón lá không chỉ được thiết kế đơn sơ nhằm đảm bảo nhu cầu sử dụng mà còn được chú trọng rất nhiều về tính thẩm mỹ, tăng thêm độ tinh xảo và ấn tượng trong quá trình làm nón. Khi hoàn tất các công đoạn trên, người làm nón dùng dầu bóng để phủ lên toàn bộ mặt ngoài nón, sau đó mang phơi dưới ánh nắng vừa phải để nón bền đẹp trong quá trình sử dụng.

Quá trình tạo ra chiếc nón lá có vẻ kỳ công và đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo cao của người làm nghề. Song, người làm nón lành nghề là những người có đôi tay thoăn thoắt, nhanh nhạy, khiến chúng ta hết sức ngưỡng mộ khi có thể tạo ra một chiếc nón với khoảng thời gian ngắn. Khách du lịch thập phương khi dừng chân tại những địa điểm làng nghề làm nón cũng tỏ vẻ rất thích thú khi tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình này. Nghề làm nón bên cạnh những ngành nghề thủ công khác vẫn còn được lưu truyền và thật may mắn vì vẫn chưa hề có dấu hiệu mai một theo thời gian.

Khắp chốn làng quê non nước Việt Nam, có thể nói nơi nào cũng có thể bắt gặp hình ảnh của quen thuộc chiếc nón lá. Chiếc nón vốn là vật dụng phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân quê trong lao động sản xuất cũng như đời sống hằng ngày. Khắp các nẻo đường làng, hình ảnh những người phụ nữ tảo tần vai quẩy đôi quang gánh, đầu đội chiếc nón lá cất lên tiếng rao hàng đã trở thành một hình ảnh đẹp. Nón lá trở thành người bạn đồng hành của người dân lao động. Nón lá giúp che mưa, che nắng. Nón lá tựa một chiếc quạt mang làn gió mát lành mỗi buổi trưa oi ả ngoài đồng. Những nữ sinh duyên dáng khi xưa với tà áo dài tinh khôi bước đi, tay che nghiêng chiếc nón lá bài thơ bên dòng sông Hương thơ mộng là hình thượng khơi nguồn cảm xúc cho biết bao văn nhân, thi sĩ. Nón lá là biểu trưng thể hiện nét đẹp duyên dáng, dịu dàng, e lệ của người con gái Việt; nét tảo tần của bao người phụ nữ Việt dãi nắng dầm sương. Chiếc nón lá xuất hiện nhiều hơn trong các tác phẩm văn nghệ, các bài múa ca ngợi nét đẹp truyền thống non nước, con người Việt Nam.

Để có thể phát huy hết vẻ đẹp của nón lá và giữ công dụng nón trong thời gian lâu nhất có thể, người sử dụng phải có những cách thức bảo quản nón lá đúng cách. Nón lá không nên được dùng để đi vào trời mưa, thay vào đó nên sử dụng ô để thay thế, bởi chất liệu lá khi tiếp xúc với nước sẽ ảnh hưởng đến độ bền đẹp của nón. Người sử dụng cần hạn chế dùng nón để quạt vè dễ gây móp méo, cong vành nón gây mất thẩm mỹ. Sau khi sử dụng, nên cất giữ, treo nón ở nơi bóng râm, tránh để nơi ánh nắng trực tiếp sẽ gây nóng giòn, hư hỏng chiếc nón.

Nón lá trải qua bao thăng trầm vẫn đồng hành cùng người Việt, cùng với chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng cho nét đẹp dịu dàng người con gái Việt Nam. Chiếc nón lá không chỉ là vật dụng mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân quê Việt Nam mà ngày này đã trở thành một món quà lưu niệm độc đáo cho khách du lịch nhằm lưu giữ kỉ niệm khi đặt chân đến mảnh đất hiếu khách, nồng ấm tình người và dồi dào bản sắc dân tộc này. Những người con xa quê khi nhìn thấy hình ảnh chiếc nón lá bỗng dưng lại có thể nhớ đến Việt Nam thân thương, nhớ về nơi quê nhà quen thuộc cất giữ bao tình cảm chân thành nồng hậu. Trong tương lai, hy vọng rằng hình ảnh chiếc nón lá vẫn giữ nguyên nét đẹp truyền thống vốn có mà không hề bị pha tạp hay mai một để ngày càng vươn xa hơn, quảng bá cho thế giới về nét đẹp dân tộc Việt, trở thành một nét văn hoá đặc trưng mà bất kỳ người dân Việt Nam nào khi nhớ đến đều có thể hãnh diện tự hào.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  21

“Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che”

Chiếc nón lá cứ như vậy mà trở thành hình ảnh quen thuộc nhất, gắn với người bà, người mẹ, gắn với quê hương yêu dấu trong tiềm thức của mỗi người. Cùng với hình ảnh tà áo dài, chiếc nón lá là nguồn cảm hứng cho rất nhiều các tác phẩm thơ ca, là niềm tự hào của mỗi người con đất Việt mỗi khi xa quê nhớ về.

Về nguồn gốc chiếc nón lá Việt Nam, không ai biết nón lá có từ bao giờ, chỉ biết nó đã được hình thành từ rất lâu. Vào khoảng 2500-3000 năm trước công nguyên, hình ảnh chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịnh, điều này chứng tỏ nón lá đã được sử dụng và có trở thành hình ảnh quen thuộc trước đó rất lâu rồi.

Một số làng nghề làm nón nổi tiếng đã có từ rất lâu đời như làng Đồng Di (Phú vang), làng Dạ Lê (Hương Thủy) đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế), đến nay còn có thêm làng Chuông vẫn còn giữ được những nét đặc sắc trong nghề làm nón. Trải qua nhiều những biến động, thăng trầm của lịch sử, nghề chằm nón vẫn còn tồn tại và duy trì tới ngày nay.

Nón lá có hình chóp nhọn, bao gồm một số bộ phận như vành nón, nan nón, thân nón, dây nón. Vành nón làm từ thanh tre mảnh, uốn cong, có đường kính khoảng 40-50 cm, nan nón là những thanh tre nhỏ hơn, đường kính cũng nhỏ dần từ vành lên tới chóp. Thân nón được phủ bằng những lớp lá khô, được xếp lớp và chằm cẩn thận để giúp người dùng tránh mưa tránh nắng. Dây nón thường được làm bằng vải mềm hoặc lụa để đeo vào cổ không gây cảm giác đau rát.

Về nguyên liệu làm nón, nón thường được làm từ nhiều loại lá khác nhau như lá dừa, lá cọ, lá nón. Lá phải được chọn lọc kĩ càng, là những chiếc lá to khỏe, không quá non, cũng không quá già, gân lá và màu lá phải đạt chuẩn, sau đó được đem đi sấy khô, mặt lá phải bóng.

Quy trình làm nón diễn ra vô cùng phức tạp, đòi hỏi sự cẩn trọng và khéo léo của người thợ thủ công từ khâu chọn lá, sấy lá, ủi lá đến khâu chuốc vành, lên khung lá, xếp nón rồi chằm nón. Lá sau khi được chọn lọc cẩn thận sẽ được đem đi sấy khô, không được phơi nắng vì ánh nắng mặt trời sẽ làm cho lá giòn, dễ gãy. Lá sau khi được sấy sẽ được phơi sương từ 2 đến 4 giờ cho mềm, sau đó được ủi cho phẳng trên bếp than có độ nắng vừa phải. Mỗi chiếc lá cần được cắt gọn gàng sao cho có cùng độ dài khoảng 50cm.

Đến công đoạn chuốc vành, lên khung lá, xếp nón, người thợ thủ công với cây mác sẽ chuốt từng nan tre sao cho tròn đều và nhỏ gọn, sau đó uốn những nan tre này thành những vòng tròn thật đều từ lớn đến nhỏ. Mỗi chiếc nón cần có đủ 16 nan tre, xếp lên khung với khoảng cách đều nhau.

Khi đã xong phần tạo khung và chuẩn bị lá, tiếp theo là đến giai đoạn chằm lá. Những chiếc lá được xếp cẩn thận lên khung, người thợ thủ công dùng sợi nilon dẻo, chắc để khâu nón, các lá nón phải được xếp ngay ngắn không xô lệch, đường kim mũi chỉ phải đều tăm tắp mới có thể tạo thành một chiếc nón đẹp.

Ở vòng tròn lớn bằng nan tre dưới đáy chóp, người thợ thường dùng chỉ kết đối xứng hai bên để buộc dây nón. Quai nón bằng những dải lụa nhiều màu sắc, mềm mại càng làm tăng thêm nét duyên cho người đội nón, đặc biệt là người phụ nữ Việt với nét đẹp dịu dàng, thướt tha. Sau khi đã làm xong từng ấy công đoạn, chiếc nón sẽ được quét một lớp sơn phủ bóng lên bên trên để tăng độ bền chắc cho chiếc nón.

Chiếc nón thường được dùng cho mục đích che mưa, che nắng. Người nông dân Việt Nam vẫn thường dùng nón để đội đầu mỗi khi ra đồng bởi chiếc nón rộng vành, chắc chắn, nhẹ, sẽ tránh được cái nắng to soi chiếu lên phần đầu và mặt. Ca dao xưa cũng từng viết về công dụng của chiếc nón:

“Nón này che nắng che mưa

Nón này để đội cho vừa lòng ta”

 Chiếc nón còn được dùng trong biểu diễn nghệ thuật. Những tiết mục múa dân gian thường sử dụng đạo cụ là chiếc nón là, vừa là hình ảnh biểu tượng quen thuộc, vừa làm tôn lên vẻ đẹp dịu dàng, mềm mại, kín đáo của người phụ nữ Việt, gây ấn tượng độc đáo cho khán giả.

Nhắc đến nón lá, có lẽ ta sẽ không thể nào bỏ quên hình ảnh chiếc nón bài thơ xứ Huế. Chiếc nón đẹp mắt, tinh xảo như chắt chiu từng sự tỉ mẩn của người thợ làm nón và tình yêu nghề trong đó. Kể từ khi du lịch phát triển mạnh ở Huế, chiếc nón lá trở thành mặt hàng lưu niệm đối với du khách, mang vẻ đẹp của người con gái xứ Huế mộng mơ đi khắp năm châu bốn biển.

Những cô gái xứ Huế với chiếc nón bài thơ, tà áo dài duyên dáng, thong dong tản bộ bên bờ sông Hương đã trở thành hình ảnh đẹp trong thơ ca:

“Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ

Ngàn thông núi Ngụ đứng như mơ

Gió cầu vương áo nàng tôn nữ

Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ”

Chiếc nón lá từ lâu đã trở thành hình ảnh quen thuộc vẫn thường được bắt gặp trong những câu ca dao quen thuộc như:

“Nón em chẳng đáng mấy đồng

Chàng mà giật lấy ra lòng chàng tham

Nón em nón bạc nón vàng

Thì em mới dám trao chàng cầm tay

Tiếc rằng vì nón quai mây

Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm.”

Hay hình ảnh chiếc nón trong bài ca dao thể hiện sự chăm chút cho vẻ bề ngoài:

“Chưa  chồng nón thúng quai thao

Chồng rồi, nón rách, quai nào thì quai”

hay:

“Còn duyên nón cụ quai tơ

Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong”

Trong nhiều bài thơ nổi tiếng, các tác giả cũng miêu tả hình ảnh người con gái Việt với chiếc nón lá, như trong “Việt Bắc”, Tố Hữu từng viết “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”, hay trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm:

“Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành mười sáu trăng lên”

Để nón lá được bền lâu thì người sử dụng cũng cần phải cẩn trọng trong quá trình bảo quản nón. Trong quá trình sử dụng nón không nên ngồi hay dẫm chân lên nón, không sử dụng nón làm vật đựng những đồ nặng vì sẽ làm nón méo mó, mất đi hình dạng ban đầu. Khi không sử dụng, nón cần được treo ở nơi cao ráo để tránh ẩm mốc.

Chiếc nón lá đã trở thành niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam mỗi khi nhắc nhớ về. Vẫn còn đó những câu thơ trong bài “Nón lá” của Nguyễn Lãm Thắng về chiếc nón lá Việt Nam để khẳng định giá trị của nó trong đời sống tâm hồn Việt:

“Mỏng manh chiếc nón, ấy mà

Che mưa che nắng đường xa mẹ về

Từ phố thị đến làng quê

Ở đâu nón cũng nguyện che mái đầu

Nón che cái nắng qua cầu

Chị đi đến lớp mặc dầu nắng oi

Nón che từng giọt mưa rơi

Chiều đông cha vẫn ra nơi ruộng đồng

Giúp người nón mãi ước mong

Dẫu bao mưa nắng nón không ngại ngần.”

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  22

 Nhắc đến biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến chiếc áo dài thướt tha, mềm mại cùng với chiếc nón lá duyên dáng tuyệt vời. Phải chăng chính vì sự gần gũi, hữu ích và vẻ đẹp giản dị nhưng thanh cao, mà chiếc nón lá đã trở thành một trong những hình ảnh tượng trưng cho nền văn hóa Việt?

   Nón lá thường được biết đến là một vật dụng dùng để che mưa che nắng. Về nguồn gốc hình thành, nón lá chính thức có từ khi nào thì chúng ta còn chưa tìm hiểu được chính xác. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều làng nghề làm nón truyền thống ngàn đời như làng Đông Giao ở Phú Thọ, làng Phủ Cam (Huế), … Những làng nghề này ngoài việc sản xuất nón phục vụ nhu cầu thị trường, còn là những điểm tham quan du lịch để du khách có thể đến để tìm hiểu về lịch sử chiếc nón lá Việt Nam.

   Nhìn chung, nón lá thường được cấu tạo đơn giản. Nón có thể được đan bằng các loại lá khác nhau như lá cọ, lá dừa hay lá cối,… nhưng phổ biến nhất vẫn là lá nón. Nón thường có hình chóp. Khung bên trong được đan bằng những nan tre nhỏ, sau đó bên ngoài sẽ bao quanh bởi lá nón, lớp vỏ bao quanh này được cố định bằng các sợi chỉ hay các sợi cước. Một bộ phận quan trọng khác của nón là dây đeo dây đeo, thường sẽ làm bằng vải mềm hoặc nhung lụa để có thể giữ ở dưới cằm khi đội.

   Quy trình làm ra một chiếc nón lá không quá phức tạp, nhưng lại đòi hỏi ở người thợ thủ công sự cẩn thận, tỉ mỉ và khéo léo. Đầu tiên, người ta sẽ lấy từng chiếc lá nón, làm cho phẳng rồi ghép chúng lại với nhau, khoảng 24 cho đến 25 chiếc lá cho một khuôn nón. Công đoạn tiếp theo, thợ thủ công dùng dây cột thật chắc những chiếc lá nón này lại, san đều trên một chiếc khuôn hình chóp được đan, uốn sẵn từ những thanh tre. Ở hai đầu đối diện bên trong nón, người thợ sẽ thường dùng chỉ kết thành hai bên đối xứng và chéo nhau để lấy chỗ buộc quai nón. Quai nón thường sẽ là một dải nối dài có chiều ngang khoảng 4 cm. Để trang trí, nón thường được thêu ở mặt trong những bức tranh phong cảnh đơn giản và được phủ thêm một lớp bóng bên ngoài để tăng vẻ đẹp và độ bền.

Nón lá bao gồm rất nhiều loại khác nhau. Chúng ta có nón quai thao, nón rơm, nón bài thơ (trong nón có thêu một vài câu thơ)… Trong đời sống hàng ngày, chiếc nón lá vô cùng hữu ích, đó chính là dùng để che nắng che mưa. Với đặc tính là vành tương đối rộng, người sử dụng sẽ không lo bị ướt mỗi khi trời mưa hay không lo bị nắng chiếu vào. Không chỉ che nắng, che mưa cho người sử dụng mà chiếc nón lá còn trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Từ ngàn đời, phụ nữ Việt trong tà áo dài và đội chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng vô cùng đẹp cho dân tộc. Trong văn hóa nghệ thuật, nón lá được sử dụng như là một đạo cụ trong biểu diễn, múa nón trở thành một điệu múa tiêu biểu cho sân khấu dân gian.

Mặc dù ngày nay, chiếc nón lá đang dần thu hẹp vị trí và khả năng ứng dụng của nó, thay vào đó là những loại nón mũ tiện dụng thời trang hơn du nhập từ nước ngoài. Song, chúng ta không thể phủ nhận được những giá trị văn hóa, giá trị lịch sử mà chiếc nón lá mang lại. Đây là một vật dụng truyền thống cần được bảo tồn và lưu giữ.

   Chính bởi sự phổ biến trên khắp mọi miền đất nước và lưu giữ truyền thống dân tộc, chiếc nón lá đã cùng với tà áo dài thướt tha trở thành biểu tượng của phụ nữ Việt Nam. Nhiều người Việt xa xứ, nơi đất khách quê người trông thấy hình ảnh chiếc nón lá, luôn có cảm giác như quê hương đang hiện ra trước mắt, gần gũi và thiêng liêng đến lạ kì.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  23

Nón lá có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào  2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng cho người con gái Việt Nam và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương.

Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:

•    Nón dấu : nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa

•    Nón gò găng hay nón ngựa: sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa

•    Nón rơm : Nón làm bằng cộng rơm ép cứng

•    Nón quai thao : người miền Bắc thường dùng trong lễ hội

•    Nón Gõ : Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa

•    Nón lá Sen: cũng gọi là nón liên diệp

•    Nón thúng: thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.

•    Nón khua :Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa

•    Nón chảo : thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng

•    Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang

•    Nón bài thơ : ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ …

•    Tuy có nhiều chủng loại nhưng phổ biến nhất vẫn là nón lá. Phải nói rằng người Việt Nam ta từ nông thôn đến thành thị đều từng dùng nón lá nhưng có mấy ai quan tâm đến nón có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu?

Nón lá tuy giản dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón phải khéo tay. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu rồi uốn thành vòng tròn trịa bóng bẩy. Có được khung nón, người ta còn phải mua lá hay chặt lá non còn búp ,cành lá có hình nan quạt nhiều là đơn chưa xòe ra hẳn đem phơi khô. Lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho bớt độ giòn.người ta mở lá từ đầu đến cuống lá ,cắt bỏ phần cuối cùng, rồi dùng lưỡi cày nóng và búi giẻ hơ trên thanh hồng kéo lên lá nón thành tờ giấy dài và mỏng, nổi lên những đường gân nhỏ, lựa những lá đẹp nhất để làm vành ngoài của nón.

Sau đó người ta dùng cái khung hình chóp, có 6 cây sườn chính để gài 16 cái vành nón lớn nhỏ khác nhau lên khung. Loại khung này thường do người chuyên môn làm để kích thước khi lợp lá và chằm nón xong co thể tháo nón ra dễ dàng.Những lá nón làm xong được xếp lên khung, giữa 2 lóp lá lót một lượt mo nang thật mỏng và được buộc cho chắc.Tiếp là công đoạn khâu, bàn tay người thợ thoăn thoắt luồn mũi kim len xuống sao cho lỗ khâu thật kín.

Người thợ khéo còn có tài lẩn chỉ, khéo léo giấu những nút nổi vào trong.Chiếc nón khi hoàn chỉnh vừa bền vừa đẹp ,soi lên ánh mặt trời thấy kín đều.Nón rộng đường kính 41cm, người ta phết phía ngoài lớp sơn dầu mỏng để nước mưa không qua các lỗ kim mà vào trong. Để có một chiếc nón như thế phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, sấy lá, mở, ủi, chọn lá, chắm ,cắt lá ….

Cũng chính vì mang đầy tính nghệ thuật mà con người luôn biết trân trọng sản vật văn hóa này. Ngay trong thời đại thông tin, tuy có số lượng không đông nhưng vẫn còn có những con người yêu văn hóa truyền thống mà bám trụ với nghề làm nón khó thì nhiều mà lời thì ít này. Họ đã cùng chung tay lập ra những làng nón truyền thống, nơi cung cấp số lượng lớn nón cho các tỉnh thành.

Có thể kể đến làng Phú Cam còn gọi là phường Phước Vĩnh; ngay ở trung tâm thành phố Huế, trên bờ nam sông An Cựu, làng Phú Cam nổi tiếng với nón bài thơ Huế đã xinh ở dáng lại nhã ở màu, mỏng nhẹ, soi lên ánh sáng thấy rõ những hình trổ giấy về phong cảnh Huế kèm theo lới thơ cài ở hai lớp lá. Hay xã Nghĩa Châu (Nghĩa Hưng) từ lâu nổi tiếng với nghề làm nón thanh thoát ,bền đẹp. Rồi nón Gò Găng ở Bình Định, nón lá ở làng Chuông (Thanh Oai, Hà Tây), tất cả tô đẹp thêm cho nét văn hóa nón độc đáo của Việt Nam.

Và rồi, tất nhiên, chiếc nón lá đi vào thơ ca nhẹ nhàng như mặc nhiên phải vậy.Nhà thơ Bích Lan đã từng miêu tả chiếc nón bài thơ Huế rằng:

Người xứ Huế yêu thơ và nhạc Huế

Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay

Nón bài thơ e lệ nép trong tay

Thầm lặng bước những khi trời dịu nắng

Và ngay cả trong ca dao:

Nón này che nắng che mưa

Nón này để đội cho vừa đôi ta

Còn duyên nón cụ quai tơ

Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong

Hình ảnh chiếc nón lá trong mắt nhà thơ là hình ảnh của người thiếu nữ thơ ngây trong tà áo dài thanh khiết, của người phụ nữ mộc mạc chân tình gắn đời với mảnh ruộng quê hương, của những mối tình thầm kín gửi qua bài thơ dấu trong nón lá.

Mỗi chiếc nón có một linh hồn riêng ,một ý nghĩa riêng.hiện nay, Việt Nam ta có đến hàng chục loại nón cổ truyền khác nhau, chứng minh cho nền văn hóa và đậm sắc nghệ thuật.Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt Nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó: giản dị, duyên dáng.Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  24

Sao anh không về thăm em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên.

(Bài thơ đan nón – Nguyễn Khoa Điềm)

   Nước Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên quanh năm nóng lắm, mưa nhiều. Cùng với tà áo dài thướt tha, tự bao giờ chiếc nón lá Việt Nam đã sinh ra và sống mãi theo bề dài của lịch sử văn hóa Việt Nam, và đi vào thơ ca, nhạc họa. Sau đây chúng ta hãy đi vào tìm hiểu thêm về chiếc nón lá đáng yêu này.

   Không ai xác định được nón lá có từ bao giờ. Nhưng hình ảnh của nón lá đã có trên hình trống đồng Ngọc Lũ và trên tháp đồng Đào Thịnh từ khoảng 2500 đến 3000 năm trước. Nón lá có nhiều như nón Gò Găng (sản xuất ở Bình Định, làm bằng lá dứa, dùng cho ngưỡi cưỡi ngựa), nón quai thao (sản xuất ở miền Bắc thế kỉ XX), nón thúng và thứ nón thúng nổi tiếng là nón Ba Tầm và nón bài thơ (ở Huế).

   Về cấu tạo, nón là một loại nón phần lớn được làm bằng lá buông, lá dừa, lá gồi, lá cọ, là hồ hay lá du quy diệp, cùng với tre trúc là nguyên liệu làm vành nón. Vật liệu đơn sơ bao nhiêu thì ngược lại, công phu làm nón lại tỉ mỉ bấy nhiêu.

   Muốn làm một chiếc nón lá, đầu tiên phải có một cái khung làm nón. Khung làm nón này là một khối, hình chóp, làm bằng gỗ, hình dáng nó thô hay thanh do tùy vùng miền. Nón lá Huế có dánh thanh hơn nón lá Nam Bộ vì độ rộng nhiều và độ sâu của khung ít hơn.

   Sau đó, phải đi lựa mua lá loại vừa tầm, phơi trong nắng chiều cho hơi se lại. Snag hôm sau, ủi lá sao cho lá phẳng, láng mà không cháy trên những dụng cụ riêng. Sau khi tỉa bớt những đầu thừa đuôi thẹo của lá, đến giai đoạn chuốt nan tre. Việc này có thể do nam hay nữ làm, nhưng phải chuốt đều, bằng tre còn tươi, uốn thành những vồng tròn bóng bẩy, dẻo dai, cột lại bằng dây cước rồi xếp vào khuôn gỗ theo thứ tự từ nhỏ nhất ở đỉnh nón và lớn dần… đến vành thứ mười sáu là vành cuối cùng. Kể đến, xếp lá lên đều đặn rồi bắt đầu chằm nón bằng kim nhỏ và những sợi cước trong suốt, mảnh như sợi chỉ, chạy theo mười sáu vành ấy. Chiếc nón đẹp hay xấu, có giá trị cao hay không còn do mũi khâu nhỏ hay to. Mũi khâu càng tỉ mỉ, chiếc nón càng mịn và đẹp, được xếp vào loại đắt tiền, dành cho những phụ nữa khuê các sang trọng sủ dụng.

   Nón bài thơ xứ Huế do một người tên là nghệ nhân Bùi Quang Bặc sáng chế ra vào những năm 1960, ngoài những nguyên liệu của nón lá khác, ông đã lấy giấy mỏng cắt thành những câu thơi, câu ca tình tứ, ép vào giữa hai lớp lá.

   Khi soi lên nắng, hiện lên những câu thơ chan chứa hồn người bên cạnh hình ngôi chùa Thiên Mụ hay phong cảnh núi Ngự sông Hương.

   Dù nón lá có nhiều loại, nhưng công dụng chung của nón là thật đa dạng. Ngoài việc che mưa tránh nắng, người đi xa, khát nước có đôi khi ghé vào dòng sông hay chiếc ao đầu làng mà múc nước giải khát, rửa mặt.

   Nó còn có mặt khi người phụ nữ làm đồng, đi chợ, bán buôn hay chơi hội. Kèm theo nón lá là chiếc quai lụa, làm tôn lên vẻ yêu kiều sang quý của người phụ nữ Việt.

   Chiếc nón còn làm duyên cho người con gái, phù hợp với nét tính cách kín đáo, tế nhị Á Đông, dưới vành nón, ẩn hiện một đôi mắt, một nụ cười hay che lấp một tâm trạng khó bày tỏ…. đó chính là cái duyên của chiếc nón lá Việt Nam:

“Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón

Trời mùa thu mây che có nắng đâu?”

(Thơ Trần Quan Long)

Ca dao còn rất nhiều câu lục bát hay nói về nón lá như:

Anh về Bình Định ba ngày

Dặn mua chiếc nón lá dày, không mua.

Ở các vùng làm nón, ngày cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đầu, nên ca dao có câu:

Cưới nàng đôi nón Gò Găng

Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn

Hay:

“Chén tình là chén say sưa

Nón tình em đội nắng mưa trên đầu”

(Ca dao)

Nếu nói đến các loại hình nghệ thuật múa, nước ta còn có điệu múa nón, và bao hình ảnh nghệ thuật, hội họa cũng lấy nón lá làm đề tài.

Đó là cái duyên thầm kín của văn hóa Việt mà du khách nước ngoài chẳng quản đường xa, thường mua về châu Âu, châu Mỹ sau khi rời đất nước ta.

Dù bây giờ đời sống thị thành trên chiếc xe gắn máy cần kèm theo chiếc nón bảo hiểm, nhưng chúng ta hy vọng nón lá Việt Nam còn sống mãi với dân tộc Việt Nam. Một người Việt xa xứ, giảng dạy ở Đại học Washington đã có những suy nghĩ rất hay về nón lá: “Tôi đã đi khắp bốn phương trời, đã thấy nhiều kiểu mũ, nón của nhiều nước và nhiều dân tộc, nhưng chưa thấy kiểu nón nào bình dị, đoan trang, yêu kiều và duyên dáng, đơn sơ và thực tiễn như chiếc nón lá Việt Nam”.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  25

Từ lâu, chiếc nón lá đã trở thành vật dụng quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh thiếu nữ mặc tà áo dài thướt tha bên chiếc nón bài thơ đã làm nên bản sắc của đất nước. Có thể nói, chiếc nón lá là một phần hồn, một phần người, một phần trầm tích của nền văn hóa xứ sở.

Chiếc nón xuất hiện vào thế kỉ XIII, thời nhà Trần. Khi ấy, nón có bốn loại: nón tam giang cho các ông già bà cả, nón lá cho nhà giàu, quyền quý, nón tu lờ cho nhà sư, nón chéo vành cho lính. Loại nón đặc trưng của dân Bắc Kì xưa là nón thúng rộng vành. Nón có vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm, ngoài cùng có đường thành nhô cao. Nón thúng lại có ba loại: nón nhỡ, nón đấu và nón mười (còn gọi là nón ba tầm). Nón ba tầm đẹp, được ken lá, chọn lựa kĩ càng và khâu tỉ mỉ từng đường đều đặn. Thời xưa, nón thúng rộng vành nặng, đến đầu thế kỉ XX được cải tiến như bây giờ, nhẹ nhàng và thanh thoát. Đó là nón chóp nhọn đầu, loại nón được dùng phổ biến nhất.

Nón lá phân bố khắp nơi nơi từ miền xuôi lên miền ngược, từ Nam ra Bắc với các làng nghề truyền thống nổi tiếng như ở làng Chuông ( Hà Nội), Huế, Quảng Bình…

Trước kia, nghề làm nón là nghề hoàn toàn thủ công . Ngày nay đã có sự hỗ trợ của máy móc nhưng vẫn không thể thiếu bàn tay khéo léo của con người. Làm nón không quá phức tạp nhưng đòi hỏi phải cẩn thận, tỉ mỉ và có lòng say mê. Nón làm từ ba loại vật liệu: tre để làm vành, lá để lợp, sợi móc để khâu. Lá làm nón là lá gồi, lá cọ được lấy từ vùng trung du hoặc núi cao. Để lá có độ bền phải qua một quá trình sơ chế: phơi khô trong nắng nhẹ, sấy bằng hơi đốt diêm sinh sao cho lá có màu trắng, chọn những lá bánh tẻ có độ bền cao rồi dùng bàn là là cho phẳng. Thân tre chẻ nhỏ, chuốt tròn rồi uốn thành 16 vành với kích thước khác nhau. Sợi móc bằng nilong bán nhiều trong các cửa hàng tạp hóa. Khung nón gồm 5 thanh tre dẹt, mỗi thanh dài khoảng 25cm có từ 15 đến 16 khấc với khoảng cách đều nhau. Để khớp các vành, một đầu các thanh tre chụm vào nhau để tạo chóp nhọn còn đầu kia gắn vào vành to nhất.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ vật liệu và công cụ như kim, dao, kéo… người thợ bắt đầu dựng khung, khớp vàng vào khung và lợp lá nón. Là được lợp hai lớp, ở giữa có thể thêm một lớp mo tre. Khi lợp phải chú ý lợp sao cho đều, cho kín. Lợp xong bắt đầu khâu để khớp vàng nón với lá nón. Đường khâu bắt đầy từ vàng nhỏ nhất dần đến các vành to hơn. Khâu nón là việc đòi hỏi phải cẩn thận và tỉ mỉ nhất, mũi kim phải nhỏ, đường chỉ phải đều.

Nón có thể đội trên đầu mà không rơi là nhờ quai nón. Nón ba tầm thường dùng quai thao, đây là sợi dây đệt bằng tơ, ở hai đầu có tua thao mềm mại để tôn tính cách hiền hòa của người Việt Nam. Còn phần lớn quai nón được làm công phu bằng những dải lụa nõn nà, đủ màu sắc như trắng trinh bạch, tím thủy chung, đen gấm sang trọng…

Trong các vật dụng đội đầu thì chiếc nón là có giá cả vừa phải và dùng để che mưa che nắng là tốt hơn cả. Với hình chóp nhọn, trời mưa nhanh róc nước còn trời nắng thì thoáng mát. Nón gắn bó với người nông dân hết cả cuộc đời. Nghề làm nón còn tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân lúc nông nhàn. Những làng nghề nổi tiếng đã có sản phẩm xuất khẩu sang một số nước châu Âu, châu Á đem lại lợi nhuận không nhỏ.

Người phụ nữ Việt Nam mặc áo dài, đội trên đầu chiếc nón lá toát lên vẻ đẹp đằm thắm, duyên dáng, dịu dàng. Chiếc nón còn sử dụng làm đạo cụ trong các điệu múa truyền thống như múa nón.

Cuộc sống hiện đại ngày nay có nhiều vật dụng có thể thay thế chiếc nón như mũ, ô song không thể phủ nhận vai trò của chiếc nón trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt. Người Việt Nam có quyền tự hào về chiếc nón lá bởi nó là bản sắc dân tộc, là nét đẹp riêng của nền văn hóa Việt. Mỗi công dân chúng ta phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ bản sắc dân tộc đêt những vật dụng như nón lá không bị lãng quên theo thời gian.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam ngắn gọn  26

Ở một lúc nào đó nơi xứ người, thấy một tà áo trắng tung bay trong gió bên chiếc nón lá nhỏ xinh có thể khiến bất cứ người con Việt Nam cảm thấy xúc động và tự hào về quê hương mình. Và tự bao giờ, cùng với tà áo dài, chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp người phụ nữ, cho người nông dân Việt Nam.

Được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong đời sống lao động nhưng ít ai có thể nói được nguồn gốc ra đời của chiếc nón lá. Không ai biết về nơi chính xác nó ra đời, cũng không có những câu chuyện cổ tích về những chiếc nón. Chỉ biết rằng những chiếc nón xưa nhất được tìm thấy khắc trên mặt chiếc trống đồng Đông Sơn và thạp đồng Đào Thịnh cách chúng ta từ 2500 năm đến 3000 năm về trước.

Về phần cấu tạo, theo thời gian, chiếc nón cũng có những thay đổi rất đa dạng để phù hợp và thích ứng. Trong xã hội phong kiến, nón lá được chia thành nhiều loại theo các giai cấp xã hội khác nhau. Những anh lính có riêng cho mình những chiếc nón dấu với kích thước nhỏ, ở chóp có dấu lông gà. Chẳng thế mà dân gian có câu: “Cậu cai nón dấu lông gà” (Ca dao). Nón dừa với kích thước nhỏ, chóp nhọn, vành rộng, xuôi xuống dành cho những cao nhân mặc khách trong giang hồ. Có loại nón ba tầng hay còn gọi là nón quai thao được làm để dành riêng cho những cô gái Kinh Bắc với vành rộng và thẳng như cái mâm. Những chiếc nón chúng ta thấy nhiều nhất ngày nay, cũng là nón phổ biến trong lao động được gọi là nón nhỡ. Chiếc nón với chóp nhọn, vành rộng, thành dốc, rất hữu dụng cho việc che mưa che nắng.

Chiếc nón lá trông thật đơn giản mà để làm ra nó thì thật không đơn giản như thế. Nguyên liệu làm nón gồm có lá cọ, tre, nứa và chỉ cước. Quy trình đầu tiên là làm khung nón: gồm 16 vành, tre, nứa bánh tẻ vừa mềm để dễ uốn. Quai nón thường làm bằng vải lụa, vải nhung hay vải von với đủ màu sắc. Trong quá trình làm nón, công phu nhất là khâu chọn lá và là lá. Lá cọ phải là lá bánh tẻ không quá to, quá nhỏ, nên lấy từ vùng trung du, được phơi trong nắng vừa. Nếu nắng gắt sẽ khiến lá bị giòn trong khi trời mưa sẽ làm mốc lá. Sau đó, người ta dùng một miếng sắt, than đã được nung đỏ bởi bếp than hồng để là thẳng và trơn cho chiếc lá. Là lá đòi hỏi phải có chuyên môn cao nếu không lá rất dễ bị giòn gãy hoặc bị nhăn, ngả vàng. Tiếp theo, những chiếc lá được đặt trên chiếc kung có sẵn sao cho các gân lá đều phải đều nhau. Những mũi khâu điêu luyện lượn từ đỉnh đến đáy sao cho không để lộ chỉ mới gọi là đạt yêu cầu. Cuối cùng, ở phần đáy nón được khâu đối xứng để làm nhôi và qua nón. Những chiếc nón còn được làm đẹp với những bức tranh phong cảnh bên ngoài hay những chiếc quai bằng vải nhung, lụa đầy duyên dáng.

Những làng nghề làm nón lâu năm đã trở thành “thương hiệu” khắp đất nước có thể kể đến như: làng Chuông (Hà Tây) hay ở tỉnh Quảng Bình, cố đô Huế, … Nếu như nón Quảng Bình và Hà Tây mang vẻ đẹp khỏe khoắn, giản dị, phù hợp với người lao động:

“Muốn ăn cơm trắng, cơm mè

Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông”

(Ca dao)

thì những chiếc nón Huế lại rất mềm mại, là biểu tượng của sự nên thơ, trầm mặc của con người và mảnh đất cố đô. Người làm nón Huế thường đặt vào giữa hai lớp lá hình ảnh chùa Thiên Mụ, cầu Tràng Tiền hay một bài thơ trữ tình. Vì thế, một tên gọi khác của nón Huế chính là nón bài thơ.

Chiếc nón lá từ lâu đã trở thành người bạn quen thuộc của người nông dân những làng quê. Trong cuộc sống lao động, những chiếc nón là vật che mưa che nặng, cùng những người nông dân “một nắng hai sương”. Trong đời sống tinh thần của con người, chiếc nón còn trở thành quà tặng của các bà mẹ dành cho con gái vào ngày lấy chồng với mong muốn con sẽ trở thành một nàng dâu ngoan hiền, đảm đang. Đi vào thơ ca nhạc họa, rất nhiều những bài thơ, lời hát được cất lên như những món ăn tinh thần không thể thiếu. Đặc biệt, chiếc nón còn là hình ảnh cho nỗi vất vả, tảo tần cũng như những phẩm chất đáng quý của bà, của mẹ, của người phụ Việt Nam bao đời. Vì vậy, dẫu ở dải đất chữ S hay đi khắp năm châu bốn biển, chỉ cần nơi đâu có chiếc áo dài tung bay hay những chiếc nón bài thơ, ở đó có tâm hồn Việt Nam, có sức sống Việt Nam.

Chiếc nón hữu ích và giá trị như thế, cần được bảo quản và giữ gìn cẩn thận. Khi mua nón, cần hơ nón trên ngọn lửa diêm sinh hay phết lên một lớp dầu mỡ để chiếc nón bền, đẹp, không bị mốc. Sau mỗi lần sử dụng, nên treo nón lên để tránh bị va chạm hay bị bẹp.

Ngày nay, xã hội hiện đại với sự xuất hiện của ô, mũ, dù thời trang lấn át dần nón lá truyền thống. Nhưng nón lá vẫn tồn tại và ăn sâu vào đời sống lao động, đời sống tâm hồn của người dân, là biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam dịu dàng, giản dị, chân chất, yêu thương.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  27

“Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ

Tà áo dài trắng nhẹ nhàng bay

Nón bài thơ e lệ trong tay

Thầm bước lặng, những khi trời dịu nắng”

Ai đã từng qua miền Trung nắng lửa không thể không biết đến nón bài thơ xứ Huế. Chiếc nón lá ấy đã trở thành biểu tượng văn hóa của một vùng đất nhiều truyền thống. Và cũng từ lâu, chiếc nón lá trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với chiếc nón lá nhẹ nhàng và tà áo dài tha thướt đã đi vào thơ ca, nhạc họa của biết bao thế hệ.

Chiếc nón lá Việt Nam là một công cụ che nắng, che mưa, làm quạt, khi còn để che giấu gương mặt, nụ cười hay tạo thêm nét duyên dáng cho người phụ nữ Việt Nam.

Vật liệu để làm nên cái nón là lá cọ, chỉ tơ, móc, tre làm khung. Nón lá có cấu tạo đơn giản nhưng cũng đòi hỏi một sự khéo léo của người thợ. Nón có hình chóp đều, thành được bao bọc bởi những chiếc vành uốn quanh thành nhiều lớp. Vành nón làm bằng tre, vót tròn như bộ khung nâng đỡ cái hình hài duyên dáng của nón. Ở phần đáy nón có một chiếc vành uốn quanh, cứng cáp hơn những chiếc vanh nón ở trên. Vanh nón, vành nón cứng hay giòn sẽ quyết định đến độ cứng cáp, bền lâu của chiếc nón.

Nhưng bộ phận quan trọng nhất của chiếc nón lại là hai lớp lá cọ – vật liệu chính để hình thành nên một chiếc nón. Lá cọ phải là lá non, phơi thật trắng. Lót giữa hai lớp lá cọ là lớp mo nang làm cốt, được phơi khô, lấy từ mo tre, mo nứa. Tất cả các vật liệu làm nên nón đều phải không thấm nước, dễ róc nước để chống chịu với những cơn mưa vùi dập, những ngày nắng oi ả thất thường.

Để tăng thêm nét duyên dáng, đồng thời giữ chặt nón vào đầu người đeo, người ta làm ra chiếc quai bằng lụa mềm gắn cùng hai chiếc nhôi đính vào mặt trong của chiếc nón. Nhôi nón được đan bằng những sợi chỉ tơ bền, đẹp. Người ta cũng có thể trang trí những hoa văn đậm nét dân tộc vào bên trong chiếc nón hoặc quét một lớp quang dầu thông bóng bẩy lên mặt ngoài chiếc nón.

Quy trình làm nón không khó lắm: trước hết, phơi lá nón (lá cọ non) ra trời nắng cho thật trắng, để rải trên nền đất cho mềm, rồi rẽ cho lá rộng bản. Sau đó, là lá trên một vật nung nóng cho phẳng. Vanh nón được vuốt tròn đều đặn. Việc cuối cùng là thắt và khâu khi lá đã đặt lên lớp vành khuôn. Sợi móc len theo mũi kim qua 16 lớp vòng bằng cột tre để hoàn chỉnh sản phẩm. Nón khâu xong có thể hơ trên hơi lửa cho thêm trắng và tránh bị mốc. Quy trình làm nón là vậy. Nói là: không khó lắm, nhưng thực ra đó là những tinh hoa, những đúc kết bao đời nay của nghệ thuật làm nón.

Ở Việt Nam, có nhiều vùng nổi tiếng về nghề làm nón: nón làng Chuông (Hà Tây cũ) vừa bền vừa đẹp; ở Huế có nón bài thơ thanh mảnh nhẹ nhàng; nón Quảng Bình, Nam Định cũng có những nét đẹp riêng.

Chiếc nón lá rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Nó che mưa, che nắng, là một món quà kỷ niệm đầy ý vị độc đáo, sâu sắc. Nó làm thêm phần duyên dáng cho các thiếu nữ Việt Nam trong các dịp hội hè. Còn gì đẹp hơn một người thiếu nữ mặc chiếc áo dài thướt tha, đội chiếc nón lá, bước đi uyển chuyển trong bài múa nón.

Chiếc nón đã thực sự trở thành một biểu tượng sinh động của người phụ nữ Việt dịu dàng, nết na, duyên dáng: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, chiếc nón đã không còn vị trí, vai trò như trước. Những chiếc mũ xinh xinh, những bộ quần áo mưa sang trọng đã thay dần chiếc nón bình dị xưa. Nhưng trong ý thức mỗi người dân Việt, hình ảnh chiếc nón cùng những nỗi nhọc nhằn, những mũi chỉ khâu tinh tế sẽ mãi mãi trường tồn vĩnh cửu. Nó mãi mãi là một nét đẹp trong nền văn hoá độc đáo của đất nước Việt Nam tươi đẹp.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  28

Một người Việt Nam xa xứ, là giáo sư đang giảng dạy ở Đại học Washington, Hoa Kỳ, đã có suy nghĩ rất hay về chiếc nón lá : “Tôi đã đi khắp bốn phương trời, đã thấy nhiều kiểu nón, kiểu mũ của nhiều đất nước và nhiều dân tộc thiểu số, nhưng chưa thấy chiếc nón nào gồm đủ các sắc thái bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng, đơn sơ và thực tiễn như chiếc nón lá Việt Nam” (Nguyễn Thị Hoàng Tâm, Tạp chí Thế giới, số 2, tháng 11-1995).

Đối với người dân Quảng Nam, nếu nón không làm bằng lá thì hai chữ nón và mũ lại được dùng như nhau, chẳng hạn : nón rơm – mũ rơm, hay nón nỉ – mũ nỉ.

Nón lá trông thật giản dị, nhưng để tạo nên chiếc nón lá thì thật công phu và tỉ mỉ. Vật dụng làm nón gồm : lá, chỉ và khung nón. Lá thì lấy từ hai loại cây giống như cây lá kè, có sứa nhỏ, mọc ở những vùng đồi núi. Một loại có tên là lá tơi (tên chữ là du quy diệp). Một loại khác là lá nón hay lá bồng (tên chữ là bồ quy diệp), mềm và mỏng hơn. Người dân quê Quảng Nam ngày trước thường dùng hai loại lá tơi và lá nón trên đây, tùy theo chất lá : lá non mềm và mỏng thì dùng làm nón ; còn lá già, dày và có gân cứng thì dùng làm tơi, gọi là áo tơi, tức là cái áo đi mưa ngày trước.

Với loại lá non còn búp, chưa xòe ra hẳn, người ta phơi khô, nhưng không để cho khô quá, rồi đem ủi cẩn thận. Người ta “ủi” bằng cách lấy giẻ nhúng nước, đem hơ trên lửa cho nóng trước khi chà nhẹ lên lá, để “ủi” cho lá thẳng và những đường gân lá cũng bằng với mặt lá, đoạn đem treo lên từng chùm để giữ lá cho thẳng.

Sợi chỉ khâu lá thường là sợi cước (người Huế thì lại dùng sợi chỉ đoác).

Khung nón thường là do những người thợ có tay nghề chuyên môn làm sẵn, có 16 vành (cũng khác với một loại nón Huế, nhất là dành cho các ni cô đội, có đến 18 vành).

Sau khi nan tre mềm và nhỏ được vót tròn và ghép uốn thành vành để bắt vành và đặt vô khung (ở vùng quê Quảng Nam thường gọi là khuôn), người làm nón xếp hai, ba lớp lá đã được ủi sẵn lên khung. Lá mỏng lợp ra ngoài, lá dày lợp bên trong. Muốn nón đội chắc và bền, thì lợp toàn lá dày. Những chiếc nón lá người đi cày ở quê ta ngày trước thường đội là loại nón lợp lá dày này. Vành nón cũng phải chuốt mỏng hơn, để nón đội được nhẹ nhàng, trang nhã. Giai đoạn chót là chằm nón : dùng chỉ cước khâu lại các lớp lá vô vành. Đến vành cuối cùng là vành lớn nhất thì người chằm nón dùng một vành tre to, kèm theo vành tre nhỏ, để kẹp lá vào giữa cho chắc, cho lá khỏi tụt ra và xơ rách. Việc may hay viền vành nón cuối cùng này, người làm nón gọi là nút vành. Phải may cẩn thận một mũi dài, hai mũi ngắn, thật đều, mà người trong nghề gọi là kiểu may một mẹ hai con; một cách gọi khá lạ tai, nhất là với các bạn trẻ ngày nay.

Chiếc nón lá ngày trước, ngoài để che nắng che mưa, còn là vật trang sức rất có duyên, mang nét trữ tình thầm kín của người con gái Việt Nam. Và có lẽ không ở nơi đâu có nhiều nữ sinh duyên dáng với mái tóc đen dài óng ả phủ kín bờ vai, với tà áo dài trắng tha thướt và chiếc nón bài thơ e ấp như ở Huế. Mỗi buổi tan trường, các cô nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa, với cả rừng nón nhấp nhô, làm đẹp các ngả đường và tạo nét đẹp lãng mạn trên vai cầu Trường Tiền bắc qua dòng sông Hương xanh biếc. Những cô gái Huế thường thẹn thùng kéo nón che nghiêng ấy đã khiến bao tâm hồn phải bâng khuâng : “Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón ?/Chiều mùa thu mây che có nắng đâu” (Trần Quang Long). Và ngay cả nhân vật trữ tình trong ca dao cũng đã từng phải say lòng : “Chén tình là chén say sưa,/Nón tình em đội nắng mưa lên đầu”. Vì bởi đó là những buổi đất trời bâng khuâng mà lòng phải tự hỏi lòng : “Tình yêu còn nép sau vầng trán./Lòng nắng vàng hanh hay sắp mưa ?” (T.H.D.V).

Đối với người dân quê Quảng Nam, chiếc nón lá màu ngà có biết bao công dụng. Ngoài việc dùng nón thường xuyên để che mưa, che nắng, bác nông dân hay bà mẹ quê, mỗi khi lỡ đường, khát nước, chỉ việc ghé xuống sông dùng nón múc nước uống, giản tiện vô cùng. Giải cơn khát xong, nón lại được phe phẩy quạt để tìm chút hơi mát, nhất là khi phải đi đường xa trong những ngày mùa hè nóng nực. Bên một cánh đồng, em bé chăn trâu nằm dưới gốc cây, cả bác thợ cày cũng vậy, dùng nón che mặt, để vừa tránh nắng, vừa ngăn ruồi muỗi khỏi quấy rầy giấc ngủ trưa hiền hòa…

Chiếc nón lá Việt Nam, đâu chỉ là vật tiện dụng mà còn là nét đẹp thầm kín của văn hóa Việt Nam, sẽ còn tồn tại mãi, tôi chắc thế, dù cuộc sống có đổi thay, hiện đại đến đâu chăng nữa.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  29

Việt Nam là một vùng nhiệt đới, nắng lắm mưa nhiều. Vì vậy chiếu nón đội đầu là vật không thể thiếu được để che nắng che mưa.

Nón Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng ào Thịnh vào 2.500-3.000 năm về trước. Từ xa xưa, nón đã hiện diện trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam, trong cuộc chiến đấu giữ nước, qua nhiều chuyện kể và tiểu thuyết.

Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt, nón được tết đan. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim, tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên).

Theo lời các cụ, trước kia người ta phân thành 3 loại nón cổ có tên gọi nón mười (hay nón ba tầm), nón nhỡ và nón đầu. Nhìn chung nón cổ vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội. Nón ba tầm có vành rộng nhất. Phụ nữ thời xưa thường đội nón này đi chơi hội hay lên chùa. Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quanh cũng thấp nhất. Trước kia người ta còn phân loại nón theo đẳng cấp của người chủ sở hữu nón. Các loại nón dành cho ông già, có loại cho nhà giàu và hàng nhà quan, nón cho trẻ em, nón cho lính tráng, nón nhà sư…

Ở Việt Nam, cả hai miền Bắc, Trung, Nam đều có những vùng làm nón nổi tiếng và mỗi loại nón ở từng địa phương đều mang sắc thái riêng. Nón Lai Châu của đồng bào Thái; nón Cao Bằng của đồng bào Tày sơn đỏ; nón Thanh Hoá có 16-20 vành; nón Ba ồn (Quảng Bình) mỏng nhẹ và giáng thanh thoát; nón Gò Găng (Bình ịnh); nón Huế nhẹ nhàng, thanh mỏng nhờ lót bằng lá mỏng; nón làng Chuông (Thanh Oai, Hà Tây) là loại nón bền đẹp vào loại nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Nguyên liệu làm nón không phức tạp. Ở nơi nào cũng vậy, muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang, dùng sợi nón – một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) và tre. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh răn reo, được đem là bằng cách dùng một miếng sắt được đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm dẻ vuốt cho phẳng. Lửa phải vừa độ, nếu nóng quá thì bị ròn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại răn như cũ. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra, đồng thời tránh cho lá khỏi mốc.

Tre chọn ống dài vuốt nhọn, gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt, dùng làm vòng nón. Nón Chuông có 16 lớp vòng. Con số 16 là kết quả của sự nghiên cứu, lựa chọn qua nhiều năm, cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. Chúng đã tạo cho những chiếc nón Chuông có được dáng thanh tú, không quá cũn cỡn, không xùm xụp. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. Người thợ khâu nón được ví như người thợ thêu. Vòng tre được đặt lên khuôn sẵn, lá xếp lên khuôn xong là đến công việc của người khâu. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài, ngắn khác nhau. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Sợi móc len theo từng mũi kim qua 16 lớp vòng thì chiếc nón duyên dáng đã thành hình.

Trong lúc khâu nón, các cô gái làng Chuông thường không quên tìm cách trang trí thêm cho chiếc nón hấp dẫn. ơn giản nhất là họ dán vào lòng nón những hình hoa lá bằng giấy nhiều màu sắc thường được in sẵn và bán ở các phiên chợ Chuông. Tinh tế hơn, các cô còn dùng chỉ màu khâu giăng mắc ở hai điểm đối diện trong lòng nón để từ đó có thể buộc quai nón bằng những giải lụa mềm mại, đủ màu sắc, làm tôn thêm vẻ đẹp khuôn mặt các cô gái dưới vành nón.

Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức, đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.

Chiếc nón Việt Nam được làm ra để che mưa, che nắng. Nó là người bạn thuỷ chung của những con người lao động một nắng hai sương. Nhưng công dụng của nó không dừng lại ở đấy, nó đã trở thành một phần cuộc sống của người Việt Nam. Trên đường xa nắng gắt hay những phút nghỉ ngơi khi làm đồng, ngồi bên rặng tre cô gái có thể dùng nón quạt cho ráo mồ hôi. Bên giếng nước trong, giữa cơn khát cháy cổ, nón có thể trở thành chiếc cốc vại khổng lồ bất đắc dĩ, hay có thể thay chiếc chậu vục nước mà áp mặt vào đó cho giải bớt nhiệt. Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái người Kinh với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của phụ nữ Việt Nam. Với khúc hát quan họ Bắc Ninh, chàng trai và cô gái hát đối giao duyên, cô gái bao giờ cũng cầm trên tay chiếc nón ba tầm, nó giúp cô giấu khuôn mặt ửng hồng của mình khi chàng trai hát những lời bóng gió xa xôi về mối tình của chàng, thảng hoặc khi cô muốn kín đáo ngắm khuôn mặt bạn tình của mình mà không muốn để cho chàng biết.

Nón chính là biểu tượng của Việt Nam, là đồ vật truyền thống và phổ biến trên khắp mọi miền đất nước. Nếu ở một nơi xa xôi nào đó không phải trên đất Việt Nam, bạn bỗng thấy chiếc nón trắng, đó chính là tín hiệu Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  30

Chiếc nón lá gắn bó với người nông dân dùng che nắng che mưa và là đồ dùng không thể thiếu trong đời sống. Ngoài ra chiếc nón lá còn mang lại tính thẩm mỹ cho người sử dụng.

Ra đời từ rất lâu đời rồi chiếc nón xuất hiện trên trống đồng Ngọc Lũ chạm khắc hình tượng con người đội nón lá chèo thuyền, giã gạo đánh trận… Từ thế kỉ XIII thời nhà Trần nón lá được sử dụng như hình với bóng trong mọi hoạt động con người Việt Nam.

Nón lá có nhiều loại nón có chóp nhọn hoặc hơi tù hình chóp thông dụng hơn cả. Nón thúng quai thao thường theo bước các liền anh liền chị trong làn điệu quan họ Bắc Ninh, nón thúng không có chóp mái bằng, phía bên trong có vành tròn vừa với đầu người đội. Nón 3 tầng cũng giống hình nón thúng song mảnh hơn. Có nhiều nơi sản xuất ra những nón nhưng nổi tiếng nhất vẫn là nón làng Chuông, nón Huế.

Chất liệu làm nón gồm có nan che, lá nón, dây cước. Lá nón làm bằng lá cọ ngoài ra có thể làm bằng lá cối, hồ, qui điệp. Lá nón chọn loại lá bánh tẻ, phơi nắng. Dùng bàn là gang lá phảng, buộc lang, tre rừng cũng được ép phẳng các vành con đường kính chỉ to hơn đầu tăm một chút. Còn vành cái đường kính bằng khoảng đầu đũa  người thợ thủ công đặt các vành con vào khung nón trải lượt lá nón bên trong rồi đến lớp buộc lang cho nón cứng khỏe bên ngoài là lớp lá nón đẹp phần chóp nón được khâu khá kĩ để dấu các mối nối giữa các lá nón. Tiếp theo người thơ khâu lá nón vào vành con từ chóp xuống theo các đường hình tròn của khung mũi cước phải đều mới đẹp. Sau đó công đoạn tết nối bằng dây len đan chéo vào nhau.

Nón lá gắn bó và đi vào thơ ca nhạc họa:

Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che.

Nón lá vật dụng sử dụng nhiều vì vậy cần bảo quản mới bền đẹp. Khi mới mua, người thợ nón thường quét một lớp dầu thông bên ngoài, lớp dầu này không chỉ làm cho nón bóng đẹp mà còn có tác dụng khi trời mưa, nước mưa khó thấm vào bên trong. Khi đội xong ta nên treo nón lên cao tránh để vật dụng nặng đè vào gây hỏng.

Cuộc sống hiện đại, nón lá đang bị thay thế với những chiếc mũ vải, nhưng không vì thế mà con người lãng quên đi những chiếc nón lá này. Trong tiềm thức những chiếc nón lá vẫn là người bạn đồng hành cùng mọi chị em phụ nữ che nắng, che mưa trên mỗi chặng đường.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  31

Nhắc đến đất nước Việt Nam không thể thiếu nón lá và tà áo dài, những hình ảnh đi sâu vào tiềm thức của con người Việt. Thật vậy, chiếc nón lá không chỉ dùng che nắng mưa mà là biểu tượng tinh thần vô giá của con người nơi đây.

Chiếc nón lá vật dụng luôn có vị trí quan trọng trong trái tim mỗi người, hình ảnh chân chất, gần gũi và biểu tượng của nước nhà đối với bạn bè quốc tế.

Từ rất lâu rồi chiếc nón lá luôn gắn bó với con người và đi qua thời chiến cũng như thời bình. Nón thường được đan bằng các loại lá cọ, lá nón.., nón lá có hình chóp và phía dưới thường có dây đeo làm bằng vải mềm hoặc nhung, lụa. Bề mặt nón được tạo thành bởi những nan tre nhỏ uốnvòng cung, những nan tre nhỏ sẽ được ghim lại bằng sợi chỉ cố định và giữ cho khung chắc chắn, phía trên phủ bằng lá nón giúp che nắng, mưa khi sử dụng.

Để tạo ra chiếc nón lá cần sự kì công khi thực hiện mà chỉ có người thợ mới biết cách thực hiện, họ phải chọn nguyên liệu, khâu, thực hiện mọi công đoạn để cho ra những chiếc nón bền chắc.

Chiếc nón muốn vững chắc cần chọn thanh tre mảnh, dẻo uốn thành vòng tròn, vành nón đường kính rộng khoảng 40 xen- ti- mét, rồi những vành nón nhỏ dần lại. Chiếc lá nón chọn lựa sau đó mang phơi khô. Thợ thủ công lấy dây cột chặt lá nón đã trải đều trên khuôn với khung nón rồi họ khâu. Người thợ đặt lá lên sườn nón rồi dùng dây cước & kim khâu chằm nón. Sau đó người thợ sẽ quét một lớp dầu bóng lên trên bề mặt nhằm giúp nón bền che nắng che mưa tốt hơn.

Nón lá gắn bó với người nông dân trên cánh đồng, đi vào những câu ca dao, gắn liền với những hình ảnh của các cô gái Việt duyên dáng đáng yêu. Đi đến đấu bắt gặp những người con gái đội nón lá trông họ thật nữ tính và mang đậm nét đẹp dân tộc.

Nón lá cũng trở thành món quà kỉ niệm mà người dân thường tặng cho khách du lịch khi họ đến tham quan. Chiếc nón lá trở thành biểu tượng văn hóa và tinh thần không thể thiếu của người Việt.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  32

Nhắc đến những vật dụng gắn bó, gần gũi thân thiết với người Việt ta không thể nào không kể đến nón lá. Nón lá đã đồng hành cùng con người Việt Nam qua suốt chiều dài lịch sử. Lúc vui, lúc buồn, khi đề che nắng mưa cùng người một nắng hai sương, khi lại làm duyên cùng nụ cười thiếu nữ hay e ấp cùng cô dâu bước chân về nhà chồng.

Nón Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 – 3000 năm về trước. Từ đó đến nay, nón luôn gắn bó với người dân Việt Nam như là hình với bóng. Không phải là đồ vật phân biệt giới tính, tuổi tác và địa vị… nón luôn đi theo như người bạn đường che nắng che mưa cho mọi hành trình. Nón đã hiện diện trong đời sống thường ngày của người Việt Nam, qua nhiều chuyện kể và tiểu thuyết. Chiếc nón lá Việt Nam là một phần cuộc sống của người Việt Nam. Phải chăng như vậy mà nón đã từ lâu trợ thành biểu tượng cho đất nước con người Việt Nam? Nón lá trông thật giản dị, nhưng để tạo nên chiếc nón lá thi thật công phu và tỉ mỉ. Vật dụng làm nón gồm: lá, chỉ và khung nón. Lá thì lấy từ hai loại cây giống như cây lá kè, có sứa nhỏ, mọc ở những vùng đồi núi. Một loại có tên là lá tơi (tên chữ là du quy diệp). Một loại khác là lá nón hay lá bồng (tên chữ là bồ quy diệp), mềm và mỏng hơn. Người dân quê Quảng Nam ngàỵ trước thường dùng hai loại lá tơi và lá nón trên đây, tùy theo chất lá, lá non mềm và mỏng thì dùng làm nón, còn lá già, dày và có gân cứng thì dùng làm tơi, gọi là áo tơi, tức là cái áo đi mưa ngày trước. Với loại lá non còn búp, chưa xòe ra hẳn, người ta phơi khô, nhưng không để cho khô quá, rồi đem ủi cẩn thận. Người ta “ủi” bằng cách lấy giẻ nhúng nước, đem hơ trên lửa cho nóng trước khi chà nhẹ lên lá, để “ủi” cho lá thẳng và những đường gân lá cũng bằng với mặt lá, đoạn đem treo lên từng chùm để giữ lá cho thẳng. Sợi chỉ khâu lá thường là sợi cước (ngươi Huế thì lại dùng sợi chỉ đoác). Khung nón thường là do những người thợ có tay nghề chuyên môn làm săn, có nhiều vành (16 – 18 vành). Sau khi nan tre mềm và nhỏ được vót tròn và ghép uốn thành vành để bắt vành và đặt vô khung (ở vùng quê Quảng Nam thường gọi là khuôn), người làm nón xếp hai, ba lớp lá đã được ủi săn lên khung. Lá mỏng lợp ra ngoài, lá dày lợp bên trong. Muốn nón đội chắc và bên, thì lợp toàn lá dày. Vành nón cũng phải chuốt mỏng hơn đê nón đội được nhẹ nhàng, trang nhã. Giai đoạn chót là chằm nón: dùng chỉ cước khâu lại các lớp lá vào vành. Đến vành cuối cùng là vành lớn nhất thì người chằm nón dùng một vành tre to, kèm theo vành tre nhỏ, để kẹp lá vào giữa cho chắc, cho lá khỏi tụt ra và xơ rách. Việc may hay viền vành nón cuối cùng này người làm nón gọi là nút vành. Phải may cần thận một mũi dài, hai mũi ngăn, thật đều, mà người trong nghề gọi là kiểu may một mẹ hai con. Nón lá cũng có nhiều loại: nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn….Tất cả đều để che chắn cho những con người sông trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Dù nón có nhiều loại, song nét đặc thù chung của nỏ là rộng vành (để chống nóng) và có mái dốc (để thoát nước nhanh, che mưa). Nón Bài Thơ xứ Huế, nón làng Chuông Hà Tây (cũ), nón Ba Đồn (Quảng Bình), cho đến nón Diên Thủy Khánh Hòa, thảy đều theo chung một lối. Nón cho dân dã cuốc bẫm cày sâu bao giờ cũng dày, thô mà chắc. Nón cho các bà đi chợ, đơn giản dễ coi giá phải chăng. Nón cho tiểu thư đài các thì nhẹ, trong veo thấy trời, nón Bài Thơ, giữa hai lớp lá thế nào cũng có đôi câu thơ nhẹ nhàng mà êm dịu như tâm hồn người thiếu nữ.

Chiếc nón không chỉ là thứ đội đầu, che mưa, nắng. Trong khi dùng người ta còn “sáng tạo” ra bao nhiêu là công dụng. Này nhé: “Mùa nắng thì chụp lên đầu, có gió thì che diêm mà hút thuốc lào, mỏi thì lót xuống ngồi, khát không có hàng nước thì múc nước uống, lại còn lúc ngồi ngủ ở xe thì úp lên mặt, lúc nóng thì làm quạt… mà túng nữa thì làm cái rổ đựng đồ mua chợ cho mẹ…” (Tam Lang – Tôi kéo xe). Ngoài chức năng ứng phó với môi trường tự nhiên, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mĩ của người Việt, đẹp một cách tế nhị, kín đáo. Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ… Chiếc nón tạo cho người con gái thêm nét đẹp mềm mại. Mặc áo lụa Hà Đông phải đội nón lá mới thật là “đôi lứa xứng đôi”. Còn đến với Huế nón lá phải đi với áo dài, trắng hay tím, tà áo bay, vừa uyển chuyển vừa kín đáo, và người con gái đẹp biết bao. Nón lá như thứ duyên nợ gắn bó với người thiếu nữ. Càng trẻ, càng cần chiếc nón để điểm tô, để dáng dấp thêm đậm đà lôi cuốn. Đối với thế giới khi nhắc đến người con gái Việt, chắc chắn trong đầu họ sẽ hiện lên tà áo dài và chiếc nón lá muôn thuờ.

Nón lá có mặt ở mọi nơi mọi lúc. Người ta đội nón làm đồng, đi chợ, chơi hội. Tiễn cô gái về nhà chồng, bà mẹ đặt vào tay con chiếc nón thay cho bao nhiêu lời nhắn gửi yêu thương… Chiếc nón gợi nguồn cảm hứng cho thơ, cho nhạc. Đã có hẳn một bài hát về nón: “Nón bài thơ, em đội nón bài thơ. đi đón ngày hội mở”… Giữa những kênh rạch, sông nước chằng chịt ở miệt vườn Nam Bộ, ai đó đã phải ngẩn ngơ vì: “Nón lá đội nghiêng tóc dài em gái xõa”. Chiếc nón còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần:

“Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che…”.

Trong những năm chiến tranh, tiễn người yêu ra chiến trường, các cô gái thường đội nón với cái quai mầu tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển, làm yên lòng người ra trận… Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam.

Chiếc nón lá chính là biểu tượng của Việt Nam, là đồ vật truyền thống và phổ biến trên khắp mọi miền đất nước. Nón lá ngày nay tuy có giảm số lượng người dùng, nhưng giá trị của nón lá vẫn phổ biến, vẫn được ca ngợi, ở các thành phố du lịch, chiếc nón lá như một món hàng lạ, quý hiếm, người ta còn chế ra những chiếc nón tí hon làm đồ trang trí mà du khách người Âu rất thích. Nón lá và áo dài như một cặp song sinh, áo dài còn thì nón lá còn. Nón lá đã gợi lên cả một trời thương nhớ quê hương nơi mỗi người dân Việt. Chiếc nón lá là hình ảnh đặc trưng, là biểu tượng muôn thuở của đất nước Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  33

Nón này che nắng che mưa

Nón nầy để đội cho vừa đôi ta

(Ca dao)

Câu ca dao ấy từ ngàn đời nay đã đi sâu vào tâm khảm của hàng triệu, hàng triệu người con đất Việt mỗi khi nhắc tới chiếc nón lá. Và có thể nói, chiếc nón cùng với chiếc áo dài thướt tha, dịu dàng làm nên nét đặc trưng trong trang phục của người phụ nữ Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.

Từ xa xưa đến nay, chiếc nón lá vẫn luôn là vật dụng quen thuộc của những người con đất Việt song không ai có thể xác định chính xác thời điểm ra đời của chiếc nón lá Việt Nam là lúc nào. Đi sâu tìm hiểu, khám phá nguồn gốc ra đời của nón lá, chúng ta có thể nhận thấy hình ảnh của chiếc nón lá đã xuất hiện từ rất sớm, vào khoảng 2500 – 3000 năm trước công nguyên, trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và trên những thạp đồng Đào Thịnh. Và trải qua một thời gian dài, chiếc nón lá vẫn còn đó, đồng hành với những người phụ nữ Việt Nam và trở thành một biểu tượng, một nét đẹp văn hóa trong trang phục của người phụ nữ Việt. Ngày nay, trên khắp cả nước ta, vẫn còn lại nhiều làng nghề làm nón truyền thống.

Trải qua các thời kì lịch sử, nón lá cũng theo đó thay đổi và được làm từ nhiều loại lá khác nhau như lá cọ, rơm, lá tre, lá buông,… và nhiều nhất lá lá nón. Nhưng dù được làm từ nguyên liệu nào đi chăng nữa thì nó vẫn có những cấu tạo và đặc điểm chung. Nón lá thường có hình chóp nhọn, có chiều cao khoảng 40-50 xăng-ti-mét song có một số loại nón – nhất là nón quai thao thường rộng bản hơn và đỉnh phẳng hơn. Nón lá là sự kết hợp tỉ mỉ, khéo lẻo của những chiếc lá nón xếp thành hình chóp xung quanh khung nón bằng các nan tre mỏng bởi bàn tay tài hoa của những người thợ làm nón. Nón lá thường được có quai nón – làm bằng nhung hoặc lụa đi kèm để giữ nón thăng bằng, không bị bay đi.

 Nhìn chiếc nón đơn giản là thế song để làm nên nó phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau và đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo, cẩn thận của những người thợ. Trước hết, để làm được một cái nón những người thợ phải làm khung nón. Khung nón thường có hình chóp và được làm bằng gỗ, chắc chắn và tùy theo mỗi vùng miền, mỗi loại nón mà có những khung nón khác nhau. Khi đã có khung nón, người ta bắt tay vào làm vành nón. Vành nón là những thanh tre nhỏ, được mài nhẵn bóng, trông rất đẹp mắt. Những thanh tre để làm vành nón phải là tre tươi, chúng được uốn thành hình vòng tròn, có đường kính lớn bé khác nhau, để khi ghép chúng lại với nhau có thể tạo thành hình chóp của nón. Thông thường, mỗi chiếc nón thường có mười sáu vành. Sau khi đã làm xong vành nón, người ta xếp chúng vào khung nón theo đúng thứ tự rồi dùng lá nón phủ bên ngoài. Người thợ thủ công khéo léo lấy từng lá nón, làm phẳng chúng rồi xếp chúng vào bên ngoài vành nón đã được sắp vào khung nón sau đó dùng kéo cắt chéo phần trên của lá và dùng kim chỉ kết chúng lại với nhau. Thông thường, mỗi lớp nón như vậy có từ 24-25 chiếc lá nón và số lớp lá của một chiếc nón có thế khác nhau, tùy vào từng loại nón, từng làng nghề và mục đích sử dụng chúng. Sau khi đã khâu xong các lớp lá để tạo thành chiếc nón lá hình chóp, người ta thường dùng một lớp dầu quét lên trên bề mặt của nón. Việc làm này không những làm cho chiếc nón trở nên đẹp, bóng bẩy hơn mà nó còn giúp cho nón được bền hơn. Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, bên trong của nón lá người ta còn khâu thêm vào đây những bức tranh thiếu nữ hay danh lam, thắng cảnh của Việt Nam.

Từ xa xưa đến nay, nón lá vẫn luôn là vật dụng gần gũi, gắn bó thân thiết với người phụ nữ Việt Nam và nó có vai trò, ý nghĩa rất đặc biệt trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân đất Việt. Nón lá không chỉ là vật dụng che mưa, che nắng cho con người mà nó còn xuất hiện trong các đám cưới – là một vật dụng không thể thiếu của cô dâu khi về nhà chồng và chắc có lẽ bởi vậy ca dao mới có câu:

Cưới nàng đội nón Gò Găng

Xếp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn

Thêm vào đó, chiếc nón lá cũng góp phần điểm tô nét đẹp dịu dàng, duyên dáng, kín đáo và đằm thắm của người con gái Việt Nam và nó cùng với chiếc áo dài trở thành trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam và là một trong những biểu tượng cho nền văn hóa đất Việt:

Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón

Chiều mùa thu mây che có nắng đâu

Đặc biệt, hiện nay, trên đất nước ta vẫn còn lại nhiều làng nghề làm nón từ lâu đời như làng Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy), Phủ Cam (Huế),… đó chính là những điểm đến thu hút khách du lịch. Và để rồi, nón lá như trở thành một món quà, một vật kỉ niệm mà những du khách nước ngoài khi tới thăm Việt Nam muốn mang về đất nước mình. Đồng thời, chiếc nón lá cũng trở thành nguồn cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa, với nhiều tác phẩm nổi tiếng.

Tóm lại, chiếc nón lá là một biểu tượng đẹp của đất nước, con người Việt Nam. Dù cuộc sống của chúng ta ngày càng phát triển nhưng vẫn không có gì có thể thay thế được ý nghĩa của chiếc nón lá trong trái tim của hàng triệu, hàng triệu những người con đất Việt và cả bạn bè trên khắp thế giới mỗi khi nhớ về Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  34

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết trong bài thơ Đan nón rằng:

“Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón

Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Cùng với hình ảnh của chiếc áo dài Việt Nam thì chiếc nón lá cũng đi vào văn chương một cách tự nhiên mộc mạc như thế. Có thể nói nó mộc mạc như chính những vật liệu và con người làm ra nó vậy. Đặc biệt là nó cũng đã trở thành một nét đặc trưng của con người ViỆT Nam. Nếu như phương Tây có mũ gắn hoa, gắn lông chim, nhưng chiếc mũ mấn, miện xinh xinh thì quê hương ta có chiếc nón lá với vẻ mộc mạc giản dị nhưng lại đằm thắm dịu dàng.

Trước hết là về nguồn gốc của chiếc nón lá mộc mạc ấy. Cũng giống như những vật dụng lâu đời khác thì nón lá cũng có một cuộc đời với nhiều lần thay đổi. Hình ảnh của chiếc nón lá đầu tiên được khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng đào Thịch vào khoảng 2000 – 3000 năm trước công nguyên. Không những thế hình ảnh chiếc nón lá còn được thể hiện trong đời sống của con người chúng ta từ xa xưa. Đó là hình ảnh những con người Việt nam với chiếc nón che cho con những ngày mưa đạn, nắng sương. Đó còn là hình ảnh những người mẹ người bà đi chợ đội chiếc nón trên đầu hay những lúc nắng đem ra quạt mát. Hay hình ảnh những cô thiếu nữ với chiếc áo dài tha thướt trên con phố nhỏ đầu đội nón lá nghiêng nghiêng. Hiện nay thì vẫn còn rất nhiều nơi làm nón lá mà nổi tiếng như là Huế, Phú Vang, Hương Thủy…đặc biệt chính những sản phẩm ấy là một điểm thu hút khách nước ngoài.

Nguyên vật liệu để làm ra chiếc nón lá Việt nam cũng rất mộc mạc sẵn có trong cuộc sống đời thường. Và để làm ra những chiếc nón lá đẹp thì đòi hỏi con người phải có một bàn tay khéo léo.

Nguyên liệu thứ nhất cần phải có là những chiếc lá cọ hoặc lá dừa. Người miền Bắc thì dùng lá cọ còn người miền Nam thì dùng lá dừa. Những chiếc lá dài và đẹp sẽ được chọn sau đó được phơi khô đi. Đối với lá dừa vì mỏng hơn lá cọ cho nên làm dù chọn lọc kĩ càng đến mức nào thì cũng không chắc chắn và đẹp như nón làm bằng lá cọ được. Lá dừa sau khi phơi khô thì được ngâm trong lưu huỳnh để dai hơn và sau đó làm nón. Còn lá cọ thì phải chọn những chiếc lá non vừa độ, gân lá phải xanh, màu lá phải trắng xanh thì khi làm nón mới đẹp được. Và sau đó người ta sẽ đem phơi sương cuối cùng là làm nón.

Nếu như lá là “phần thịt” để làm nên nón thì khung là “phần xương” nâng đỡ làm nên hình của một chiếc nón. Khung nón bao gồm vành nón và những thanh nón dọc và ngang để làm nên một chiếc nón lá hoàn chỉnh. Khung nón làm bằng tre. Vành nón có vai trò là tạo nên miệng nón hình tròn cố định những chiếc lá và thanh tre dọc. Chính vì thế mà người nghệ nhân phải có sức khỏe và sự khéo léo để làm có thể uốn cho vành nón hinh tròn. Tiếp đến là những thanh tre xếp dọc và chụm đầu trên với nhau thành hình chóp, phần còn lại gắn với phần vành nón. Công việc tiếp theo là xếp những chiếc lá sít lại với nhau và dùng những thanh tre mềm thành hình tròn giống như vành nón. Mỗi vòng tròn cách nhau nửa gang tay. Sau đó thì được khâu chỉ lại cố định. Phần đặc biệt là chúp nón thì người nghệ nhân sẽ khâu chỉ cho chắc chắn hơn, chỉ đỏ rất đẹp. Đồng thời bên trong nón người ta sâu lại những nhánh chỉ để làm thành chỗ buộc quai nón. Những chiếc quai nón màu mè đủ kiểu có thể tùy do người mua chọn. Không những thế mà bên trong người ta còn có thể thêu những dòng chữ bằng chỉ đỏ chỉ xanh, có thể thêu theo tên người đặt mua hoặc là những tên hay. Công việc tưởng chừng đã xong xuôi nhưng lại không phải. Mà công đoạn cuối cùng cũng rất quan trọng đó là quết nhựa thông để cho nón chắc chắn và không thấm nước, bóng đẹp hơn.

Công dụng của nón lá thì ai trong những con người Việt Nam chúng ta đều biết. Đó là giúp cho chúng ta tránh được mưa gió, sương muối. Đồng nghĩa với việc nó trở thành những người bạn thân thiết của những con người Việt nam nhất là những người nông dân đi ra đồng. Không biết trời nắng mưa hay râm mát thế cho nên những chiếc nón lá sẽ giúp cho người nông dân bảo vệ được đầu mình trước những hiện tượng khắc nghiệt của thiên nhiên. Hay trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm thì chiếc nón lá ấy còn để cho những người mẹ che chở cho con mình, những người vợ, người phụ nữ lấy nón che những tài liệu mật của cơ quan cách mạng. Và đến thời bình ngày nay ngoài những công dụng ấy thì chiếc nón lá còn tôn vinh lên vẻ đẹp của những người con gai Việt nam thướt tha trong tà áo dài. Có lẽ thế mà nón lá cũng đi vào thơ ca và âm nhạc một cách tự nhiên giản dị.

Không chỉ biết dùng mà chúng ta còn cần phải biết cách bảo quản nó. Muốn nón lá được bền lâu chỉ nên đội khi trời nắng, tránh đi mưa. Sau khi dùng nên cất vào chỗ bóng râm, không phơi ngoài nắng sẽ làm cong vành, lá nón giòn và ố vàng làm làm mất tính thẩm mĩ và giảm tuổi thọ của nón.

Như vậy qua đây ta thấy được hết quá trình làm nên một chiếc nón lá Việt nam đồng thời là ý  nghĩa vai trò của nó với cuộc sống vật chất và văn hóa của chúng ta. Mỗi chúng ta phải cảm thấy tự hào vì những gì của cha ông để lại đồng thời cùng nhau giữ gìn nét văn hóa truyền thống hóa ấy mãi lâu đời.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  35

Trong bài thơ Bài thơ đan nón, Nguyễn Khoa Điềm đã có những lời mời thật đáng yêu:

Sao anh không về thăm quê em,

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên.

Bàn tay xây lá, tay xuyên nón,

Mười sáu vành mười sáu trăng lên.

Những câu thơ thật đẹp, gợi nhắc đến một nét văn hoá độc đáo của Việt Nam: Chiếc nón lá.

Nón lá có từ rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 năm đến 3500 năm về trước.

Từ xưa, nghề làm nón đã rất phổ biến ở Việt Nam. Những cái tên như nón Gò Găng, nón Tây Hồ, nón Truồi, nón Phú Cam, nón La Sơn, nón làng Chuông… đã trở nên khá thân thiết trong lòng người Việt Nam.

Chiếc nón lá cũng có nhiều kiểu, nhiều vẻ như: nón quai thao, nón dấu, nón bài thơ, nón cời, nón gõ, nón lá sen…Vật liệu dùng làm nón lấy từ nguồn sản phẩm của núi rừng như tre, trúc, lá nón. Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên, U Minh… là nguồn vô tận về lá nón. Lá cọ, lá kè cũng dùng để làm nón.

Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre cho thật tròn và óng chuốt rồi uốn thành 16 nan vành một cách công phu, sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì nức vành và ủi lá. 16 vòng nan tre xếp tròn đường kính từ nhỏ xíu trên đỉnh nón rồi lớn dần theo vành nón. Nói về lá, để có được lá đẹp, người thợ thường phải chọn lá có màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lớp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có dáng thanh, nhẹ. Sau đó, họ dùng những sợi cước mảnh để may những lá nón lại. Thao tác này đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ thì nón mới không bị thô.

Chiếc nón đem đến cái duyên dáng, dịu dàng cho người phụ nữ. Bởi vậy mà yêu cầu về tính thẩm mĩ của chiếc nón lá ngày một cao hơn. Vành nón chuốt nhỏ hơn, lá non được sấy trắng hơn, những sợi cước trắng được dùng làm chỉ khâu thay cho những sợi móc đen ngày trước. Khi nón chằm hoàn tất, người thợ không quên đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” bằng chỉ bóng láng để tạo thêm một nét duyên rồi quét thêm nhiều lớp dầu rái bên ngoài, đem phơi nắng để nón có độ bền đẹp.

Vào những thập niên 60 của thế kỉ trước, ông Bùi Quang Bặc – một nghệ nhân làm nón ở Tây Hồ và cũng là một người yêu thơ phú – đã nghĩa ra cách lồng các câu thơ vào giữa hai lớp lá để tăng thêm giá trị tinh thần và vẻ đẹp của nón. Cũng từ đó tên gọi “Nón bài thơ xứ Huế” ra đời. Trên vành nón mỏng, người thợ tạc những bức tranh như chùa Thiên Mụ, cầu Tràng Tiên, những con đò trên dòng sông Hương Giang cùng với những nét chữ mềm mại, thật thơ…!

Nét đẹp và nét duyên của chiếc nón lá không thể không nói đến sự góp phần của quai nón. Rất nhiều chất liệu, sắc màu, người dùng có thể tuỳ theo lứa tuổi mà chọn lựa. Nón cho các thiếu nữ thì quai lụa thanh tao; nón cho các bà, các mẹ thì bằng vải hoa, vải nhung. Nón mảnh mai, quai êm dịu, cái duyên của người phụ nữ càng thêm đằm thắm.

Chiếc nón đã có mặt và song hành trong đời sống thường nhật của người Việt Nam. Nón là người bạn thuỷ chung của người nông dân chân lấm tay bùn trên ruộng cạn, ruộng sâu. Nón quai thao cùng các cô gái Kinh Bắc góp vui trong các lễ hội: hội Lim, hội chùa Dâu… Các cô thôn nữ làm duyên sau vành nón. Chiếc nón thanh nhẹ còn che chở cho đôi má các cô thêm xinh, thêm giòn. Hình ảnh các cô gái miền sông Hương núi Ngự trong chiếc áo dài thướt tha, dịu dàng, e lệ sau vành nón đã làm bao cậu khoá ngẩn ngơ:

Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Nón còn đi vào đời sống văn hoá nghệ thuật. Chiếc nón của thơ ca, nhạc, họa đẹp lên nhiều lần dưới cái nhìn của các nghệ sĩ. Đặc biệt, trong nghệ thuật múa, chiếc nón tạo nên một điểm nhấn rất ấn tượng. Có phải vậy không mà những bạn bè quốc tế cũng rất yêu chiếc nón lá Việt Nam. Khi đến đất nước này, không ai mà không muốn có một chiếc nón lá để làm quà lưu niệm.

Ngày nay, ở các đô thị, không thấy học sinh đội nón đến trường mà chỉ thấy những chiếc mũ đủ màu sắc. Nhưng ở trên những đường làng, trong các chợ quê, chiếc nón trắng vẫn nhiều và thấy ưa nhìn, dễ mến. Các bà, các mẹ, các cô thôn nữ… làm sao rời được chiếc nón quê hương.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  36

Nón lá từ xưa đến nay đã trở thành nét đẹp văn hóa của người Việt, chiếc nón lá có sự gắn bó với người lao động Việt Nam, hình ảnh những thiếu nữ đôi mươi mặc áo dài, đội nón lá đã trở thành biểu tượng của người Việt. Hình ảnh có sức lay động và truyền cảm hứng với bạn bè về văn hóa, con người. Nón lá thân thương với hình ảnh người con gái Việt mặc áo dài, tay cầm nón lá chính là biểu tượng du lịch. Tà áo dài là trang phục truyền thống nón lá vật dụng không thể thiếu bởi đất nước ta nguồn gốc từ một nước nông nghiệp, thường xuyên làm viẹc ngoài trời thời tiết nhiệt đới nắng nóng nên cần có một vật dụng để che nắng khi làm việc từ đó nón lá ra đời. Hình ảnh những chiếc nón trắng giữa đồng luôn là hình tượng quen thuộc với mỗi người chúng ta. Nón lá công dụng cũng như các loại mũ khác. Nón lá dạng hình chóp, đáy tròn trịa thường có đường kính khoảng từ 50 cm đến 60 cm. Nón lá dùng làm vật trang trí đường kính nhỏ hơn hoặc lớn hơn. Nón lá thường được làm bằng lá cọ hoặc lá dừa, người ta thường chọn các loại lá này bởi tính chất dai, không thấm nước. Tên gọi chiếc nón lá cũng xuất phát từ hình dáng cũng như nguyên liệu chính để làm ra nón. Nguyên liêu làm nón còn có nan tre, kim chỉ, hình ảnh trang trí. Khi làm nón lá lá dừa hoặc lá cọ sẽ được chọn lựa kĩ càng thường người ta hay chọn lá cọ. Lá làm nón phải đạt tiêu chuẩn xanh, nổi gân, bóng bẩy. Lá sau khi được chọn phơi héo từ 2 đến 4 tiếng, khi lá mềm chuẩn bị để làm thành nón. Chuẩn bị nguyên liệu nan tre. Nan tre từ thân cây tre,  độ mềm dẻo dễ uốn nắn. Nan tre được vót tròn đường kính khoảng 1 đến 2 cm. Nguyên liệu sau cùng mà người làm cần có đó là kim chỉ màu và hình ảnh trang trí, sơn dầu. Những chiếc nón lá ngày nay trang trí đa dạng, đảm bảo yêu cầu thẩm mĩ người tiêu dùng. Sau khi trang trí xong, họ sẽ phết một lớp sơn dầu lên bên trên để tạo độ bóng bề mặt ngoài nón và giúp chiếc nón lá có độ bền màu khi sử dụng sẽ lâu hơn. Người dùng chỉ cần chọn quai nón theo sở thích, dây quai nón người ta hay chọn các dải lụa hoặc vải tổng hợp, chiều dài thường từ 70 đến 80 cm. Dây quai nón giữ chắc nón trên đầu hoặc công dụng để treo nón lên cao, khi đó thì việc bảo quản chiếc nón lá sẽ lâu dài hơn. Chiếc nón lá Việt Nam thể hiện truyền thống văn hóa và là sản phẩm của người Việt Nam làm tôn lên vẻ đẹp, duyên dáng và gợi của của người phụ nữ Việt Nam.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  37

Nước ta tự hào có nền văn minh lâu đời và truyền thống văn hóa với nhiều nét đẹp riêng độc đáo, trong đó tà áo dài va chiếc nón lá trở thành biểu tượng riêng cho nền văn hóa Việt Nam. Chiếc nón lá xuất hiện từ hàng ngàn năm trước, hình ảnh nón lá điêu khắc trên trống đồng vào khoảng 2500-3000 năm trước công nguyên. Trong cuộc sống chiếc nón lá gắn liền với con người Việt Nam từ công việc đồng áng đến các các sinh hoạt thường nhật. Để có thành quả chiếc nón là đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ của người làm. Trước tiên chọn lá cọ làm nón, phơi khô. Phần khung của nón lá được tạo thành bởi mười sáu nan tre được vót cho thật nhẵn bóng, người làm sẽ uốn chúng thành những vòng tròn với đường kính từ lớn đến nhỏ. Vòng khung có đường kính lớn nhất vào khoảng năm mươi xen-ti-met và nhỏ nhất thì chỉ bằng một đồng xu, được xếp dần lên tạo thành hình chóp nhọn. Người làm sẽ phủ lên khung nón các lớp lá. Lá chọn từ lá dừa hoặc lá cọ, nhưng lá cọ sử dụng nhiều hơn bởi độ đẹp và chắn chắc hơn. Sau đó là đến công đoạn làm chằm nón. Nón được chằm bằng sợi nilông dẻo, chắc và phải có màu trắng, lá nón thẳng, đường kim đều, tỉ mỉ. Sau khi thực hiện xong các công đoạn, người làm còn phết lên mặt nón một lớp dầu bóng để bảo quản tốt sau đó mang đi phơi khô. Khoảng nan tre thứ ba hoặc thứ tư bên trong mặt nón, người dùng thường kết chỉ ở hai bên đối xứng để có thể buộc dải lụa nhiều màu sắc sử dụng để làm quai để sử dụng hoặc treo lên khi không sử dụng. Chiếc nón lá gắn bó và trở thành người bạn thân thiết trong lao động và sinh hoạt. Người nông dân ra đồng cũng mang nón lá, đi chợ cũng mang theo, những khi làm việc ra ngoài giữa trưa nắng cũng mang chiếc nón lá theo cùng,… Nón lá công dụng như che mưa, che nắng hoặc trong những buổi trưa hè nóng bức, chiếc nón lá sử dụng làm chiếc quạt nan, xua tan nóng nắng ngột ngạt. Chiếc nón lá trở thành hình ảnh quen thuộc trong các điệu múa dân gian, thơ ca nhạc họa,…khi chiếc nón lá kết hợp với tà áo dài sẽ mang đến vẻ đẹp tự nhiên, duyên dáng cho người phụ nữ. Mặc dù cuộc sống ngày nay có nhiều chiếc mũ hiện đại khác ra đời những chiếc nón lá vẫn thân thuộc, truyền thống văn hóa của mỗi người Việt.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  38

Chứng minh lịch sử cho rằng hình ảnh chiếc nón là đã xuất hiện trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, trên mặt thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500-3000 năm về trước. Nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng chiếc nón lá bắt đầu được sử dụng ở Việt Nam vào giữa thế kỷ 13, triều đại nhà Trần. Buất luận là nón lá xuất hiện chính xác vào thời điểm nào, chỉ biết là từ rất xa xưa, chiếc nón lá đã trở thành vật dụng không thể thiếu của người Việt chúng ta. Nón là không còn chỉ vật che mưa, che nắng, là vật làm đẹp, mà nó đã đi sâu vào tâm hồn người Việt, trở thành một trong những biểu tượng tiêu biểu của đất nước, con người Việt Nam.

Nón lá phù hợp cho cả đàn ông và phụ nữ, nón lá có tính “thực dụng” vô cùng lớn, che mưa che nắng, đó là tính ưu việt đầu tiên khi nhắc đến chiếc nón lá Việt Nam. Nón cũng có nhiều hình dàng khác nhau như nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm (giống nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn)…

Dù là có nhiều loại như thế, song nét đặc thù riêng dễ nhân biết nhất vẫn là nón rộng vành (để che nắng) và có mái dốc (thoát nước nhanh, che mưa). Người sáng tạo ra chiếc nón Việt cũng đầy tài hoa, khi để cho chiếc nón đảm nhiệm chức năng đối phó lại với tự  nhiên, thiên nhiên. Bên cạnh đó cũng không quên chú ý đến tính thẩm mỹ, quan điểm về cái đẹp riêng có trong lòng người Việt: vẻ đẹp tế nhị, kín đáo. Đặc biệt là đối với phụ nữ, dưới vành nón lá, cái đẹp, cái duyên của người phụ nữ thấp thoáng xuất hiện: đôi mắt, mày ngày, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của người con gái lại được tô điểm thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ…

Nón là được làm từ nhiều vật liệu khác nhau, tùy từng vùng miền mà người ta sử dụng những lọa lá như: cọ, tre, lá cối, lá hồi, lá du quy diệp để làm nón…Phần lớn, dây đeo được sử dụng là dây làm bằng vải mềm và bằng lụa. Cũng có một số ít loại nón không sử dụng dây đeo.

Nét chung của nón là nằm ở hình dáng chóp nhọn hay hơi tù, tuy vẫn có một số loại nón rộng bản và làm phẳng đỉnh. Theo thời gian, cũng như sự phân hóa về địa hình, khí hậu của từng vùng miền khác nhau, nón lá có nhiều loại như nón ngựa hay nón Gò Găng (sản xuất ở Bình Định, làm bằng lá dứa, thường dùng khi đội đầu cưỡi ngựa), nón quai thao (người miền Bắc Việt Nam thường dùng khi lễ hội), nón bài thơ (ở Huế, là thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hoặc một vài câu thơ), nón dấu (nón có chóp nhọn của lính thú thời phong kiến); nón rơm (nón làm bằng cọng rơm ép cứng); nón cời (loại nón xé te tua ở viền); nón gõ (nón làm bằng tre, ghép cho lính thời phong kiến); nón lá sen (còn gọi là nón liên diệp); nón thúng (nón là tròn bầu giống cái thúng, thành ngữ “nón thúng quai thao”); nón khua (nón của người hầu các quan lại thời phong kiến); nón chảo (nón mo tròn trên đầu như cái chảo úp, nay ở Thái Lan còn dùng)…

Từ Bắc, Trung, Nam, trên mọi miền tổ quốc người ta sử dụng nón lá khi đi làm đồng, khi đi chợ hay mang theo cả khi tham gia các lễ hội. Cả ngày trọng đại của đời người con gái, bước ra khỏi cửa nhà để theo chồng, người mẹ cũng trao tay con chiếc nón lá, gửi gắm bao nhắn nhủ, thương yêu…Nón là là cảm hứng dạt dào cho các tác phẩm thơ, ca, nhạc, họa…Nghe đâu đây câu hát “Nón bài thơ, em đội nón bài thơ, đi đón ngày hội mở”… Giữa những kênh rạch, sông nước chằng chịt ở miệt vườn Nam Bộ, ai đó đã phải ngẩn ngơ vì: “Nón lá đội nghiêng tóc dài em gái xõa”. Chiếc nón còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần: “Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng che…”. Trong những năm chiến tranh, các cô gái tiễn người yêu ra chiến trường, vẫn đội trên đầu thường đội nón lá với cái quai mầu tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển, làm yên lòng người ra trận…

Ở xứ Huế mộng mơ, chiếc nón bài thơ như một người bạn đồng hành đối với hầu hết phụ nữ. Chiếc nón đội đầu không chỉ giúp các bà, các mẹ, các chị, các cô gái che mưa, che nắng mà ta còn bắt gặp người phụ nữ Huế dùng nón lá làm đồ đựng, làm quạt mát giữa nắng hè oi ả. Hơn cả, cùng với áo dài tím, nón quai thao làm nên nét duyên thâm trầm, duyên dáng đúng mực của người phụ nữ Huế.

Đến với cuộc thi nhan sắc nào trên thế giới, người đẹp Việt Nam cũng mang theo áo dài và cũng không quên mang theo nón lá. Nón lá đã trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng văn hóa, mang đậm tính cách, tâm hồn người Việt, đặc biệt là người phụ nữ. Trong nhưng lần du lịch ở Việt Nam trở về, chúng ta vẫn luôn thấy những chiếc nón lá đi cạnh hành lý trở về nước của những người ngoại quốc, họ cho rằng, mang được nón lá về quê hương như mang theo cả đất trời Việt Nam về bên họ.

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam  39

Nhắc nhớ đến đất nước hòa bình Việt Nam người ta không chỉ nhắc đến người dân thân thiện, tà áo dài nhẹ nhàng, thước tha thì hình ảnh chiếc nón lá chính là một hình ảnh đẹp. Không sai chút nào khi nói hình ảnh chiếc nón lá Việt Nam một trong những nét đẹp cổ truyền, đồng thời cũng chính là một biểu tượng cho văn hoá của người dân Việt Nam.

Có thể nhận thấy được về lịch sử nguồn gốc của nón lá có lẽ khó có thể chắc chắn được nón lá ra đời vào thời kì nào. Cũng chính bởi từ xa xưa trong những câu thơ dân gian hình ảnh nón lá đã xuất hiện những câu thơ thật đặc sắc:

“Dáng tròn vành vạnh vốn không hư,

Che chở bao la khắp bốn bờ…”

(Thơ cổ )

Trong bài thơ này cũng có nhiều tài liệu ghi chép, nón lá xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỉ thứ XIII đời nhà Trần, khoảng thời gian cách đây khoảng 3000 năm. Thế nhưng theo nhiều thống kê lại có những ghi chép khác. Thông qua đây ta có thể nhận thấy hình ảnh chiếc nón lá có mặt ở Việt Nam từ rất lâu đời.

Cũng theo lẽ thông thường, chiếc nón khi ra đời sẽ được đạt tên theo vật liệu tạo ra nó. Thế như hình ảnh nón lá, nón rơm, nón đệm, nón dừa,… Từ chất liệu làm nên chiếc nón lá rất phong phú thế nhưng lại rất gần gũi với người dân Việt Nam.

Hình ảnh chiếc nón lá có dáng hình chóp, vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Thế rồi giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội. Thế rồi chính với mỗi loại nón lại có kích thước rộng tròn khác nhau. Hình ảnh chiếc nón ba tầm có vành rộng nhất. Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quang cũng thấp nhất. Hay nón Nghệ, rộng trên 80 cm, sâu 10 cm.

Thế rồi để có thể tạo nên được một chiếc nón hoàn hảo cần rất nhiều vật dụng cũng như công sức và thời gian. Và vật dụng làm nón gồm: lá, chỉ, khung nón,… Với chất liệu lá thì lấy từ hai loại cây giống như lá kè, có sứa nhỏ và các loại cây này được mọc ở những vùng đồi núi hoặc có thể dùng lá cọ, rơm, tre, lá cối, lá hồ. Sợi chỉ dùng để khâu nón là sợi dây rất dai lấy từ bẹ cây móc. Thế rồi hình ảnh  mỗi chiếc nón có hoặc không có dây đeo để làm bằng vài mềm hoặc nhung, lụa để giữ trên cổ. Thế rồi chính với khung nón làm bằng tre, loại tre cật Tây Ninh, rồi khung hình chóp. Người ta có thể nhận thấy được khung và bộ vành vơi 16 chiếc vòng lớn nhỏ được chuốt nhỏ nhắn, tròn và khéo đồng thời cũng phải cân xứng nghệ thuật và nhẹ nhàng. Khi mà đã chọn được vật liệu tốt, chính người thợ phải mang tàu lá nón đi là bằng cách dùng một miếng sắt được đốt nóng, sau đó người ta đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho thẳng. Dùng lửa phải vừa độ, không nóng quá, không nguội quá. Bước tiếp theo khi xếp lá nón lên khung và khâu lại cẩn thận, tỉ mỉ. Khoảng thời gian để làm lên chiếc nón thực sự rất kỳ công, những chiếc lá để làm nón người ta sẽ phải quét lên đó một lớp dầu bóng để chiếc nón không bị mốc và bền lâu. Người thợ làm nón sau khi làm xong thường sẽ trang trí lên nón những bài thơ hoặc những hình vẽ thêu chỉ thật bắt mắt như tô điểm cho hình ảnh chiếc nón thêm đẹp hơn.

Không sai chút nào khi nói hình ảnh chiếc nón lá đi vào đời sống nhân dân ta lâu đời bởi vậy được phân chia thành nhiều loại. Nổi tiếng trong đó phải kể đến nón quai thao, nón Huế, nón Ba Đồn,… Thực sự với mỗi loại mang một vẻ đẹp của vùng miền trên đất nước Việt Nam.

Có thể nói rằng từ khi có mặt, nón lá đã gắn liền với con người đất Việt bao thế kỉ qua. Chiếc nón theo chân người nông dân ra đồng, giúp những bác nông che nắng, che mưa. Chiếc nón theo tay những nghệ sĩ đi vào thơ ca thật đằm thắm và thơ mộng biết bao nhiêu:

“Ai ra xứ Huế mộng mơ

Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”

Chính với chiếc nón còn gắn liền với những người dân lao động, trở thành chiếc mũ đội đầu giản dị. Hơn thế nữa thì hình ảnh tà áo dài của người phụ nữ Việt cùng chiếc nón đã trở thành nét đẹp văn hoá vô cùng tự hào của con người đất Việt Nam văn hiến.

Cho dù vận đổi sao dời, xã hội dù có thay đổi, nền văn hóa của nước ta có giao thoa với nhiều nền văn hóa khác thì chắc chắn rằng hình ảnh chiếc nón lá vẫn cứ còn vẹn nguyên giá trị của nó. Hình ảnh nón lá như trở thành một biểu tượng tốt đẹp của cuộc sống, của văn hóa và con người Việt Nam ta.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Học tập
READ:  Biểu cảm về mái trường thân yêu hay nhất (5 bài văn mẫu) | L2r.vn

Bài viết hay nhất